Print

NHÀ THƠ TRẦN THU HÀ

Published Date
Written by Võ Quê
Hits: 8437

 

Giới thiệu nhà thơ Trần Thu Hà, hội viên Hội VHNT Nghệ An.


 

 

Nhà thơ Trần Thu Hà

Bút danh Hà Thái Hoà

Sinh năm 1950

Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An

- Đã từng là nhạc công đoàn văn công nghệ thuật Nghệ An (chơi đàn thập lục)

- 2007 học lớp bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khoá 1.

- TÁC PHẨM:

+ 2006 TÌNH BẬC THANG(Nxb Hội Nhà văn)  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. ĐT: 01865138005

+ 2007 MẶT CẮT (Nxb Hội Nhà văn)

+ 2009 TRÁI ĐẤT TỰ QUAY (Nxb Hội Nhà văn)

.

- Giải thưởng của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp Các hội Văn học Nghệ thuật VN cho tập thơ "Trái đất tự quay" giải C

(không có giải A) năm 2010 .

- Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

- ĐT: 01686138005

*

 

ĐỒNG DAO RU MÌNH

Tung hê giải yếm

Ước mơ

Nhấp nhô

Nỗi niềm xanh lơ

Tim mình

Ướp lạnh

Kéo cày bàn phím

Vỗ cánh chữ thiền

Tay nâng tiếng ngọc

Ướt miền hoang vu

Cồn cào lời ru

Nét cười úa lạnh

Nõn nà vỗ cánh

Bẻ ghi lối về

Nghìn năm nhặt gió

Giờ ru hiên nhà

Nay thành rêu phủ

Gói lời đồng dao.

 

.

 

BIẾN TẤU LƯỠI

 

Lưỡi- giải khát qua lăng kính nồng nàn phép lạ

Lưỡi- đầu thai hơi thở dùm nhau

Lưỡi- kông kênh trên bước chân chạy

Lưỡi- đánh bóng từng đôi giày chủ nhân

Lưỡi- cái cân dâng hiến đầy toan tính

Lưỡi- hồn nhiên ôm eo đường chân trời đấu giá các vì sao

Lưỡi- tam giác quỷ ma lột da từ con giun đất, hăm hở gặm mòn sự thật

Lưỡi- giệt tấm thảm hỗn hợp làm tê liệt mọi dấu ấn thời gian

Lưỡi- ổ khoá đa năng đóng mở theo sở thích

Lưỡi- ham chơi tò he đánh trống thổi kèn

Lưỡi- sợi dây thòng lọng treo lơ lửng với bình hơi hết hạn

Lưỡi-

Lưỡi-

Lưỡi-

Lưỡi-

Lưỡi-

Và biết bao cái lưỡi

Cứ dài ra, dài ra, dài ra

Đấu thầu nhân quả.

 

 

.

ANH TÔI

(Thương tiếc anh trai liệt sĩ sau 40 năm tìm được)

Anh nằm nghiêng

Không tăng, không bạt

Bốn mươi năm anh nằm lại bìa rừng

Bốn mươi năm anh hoá người dưng

Nắm xương gửi rừng – Không bia không mộ

 

Đâu rồi

Khuôn mặt thơ ngây chưa một lần tim vỡ - Vô tư hát vang rừng

Tuổi Hai mươi xem cái chết dửng dưng

Trên đầu anh mặt trời bao giờ cũng đỏ!

Bình minh chết cho một ngày nắng đẹp

Trận giáp lá cà

Anh tôi nằm đo thời gian…

.

Bốn mươi năm nơi anh nằm nay thành phố thị

EAKA Đắc Lắc

Nước mắt Mẹ Cha cạn lăn theo anh

Phố thị bán mua

Ai mua ký ức?

Trận giáp lá cà

Anh tôi nằm nghiêng không tăng, không bạt!

Bốn mươi năm – Nhát cuốc bổ ánh ngày dựng tóc

Những hốc mắt

Sống – Chết – Nhìn

Nỗi buồn xông đất

Nén nhang đỏ…đỏ như mắt người thân

Bốn mươi năm

Chim ngưng hót sau rừng cây lá mục

Cửa đã mở…

Ước muốn

Hồn người không bị xơ cứng.

 

20/10/2008

Trần Thu Hà

.

CHẢY VỀ ĐÂU?

6 giờ

Chim bói cá bất mãn kéo co với bình minh giành giật sự sống với người, lươn, rắn nước cuộc phiêu diêu ngàn năm.

Chảy về đâu?

Em giẫy chết trong gương bởi trận cười thế kỷ, thôi mặt người thôi vội múa mi cong

 

Em miết thời gian lên dấu khói, mà đâu xoá được dấu vân tay ngoãn mục, mà đâu ngăn được tiếng nức nở cầu xin Thượng đế, con đường thôi ruột gà, sỏi đá, phân trâu

 

Em đã vét nhẵn đấu mồ hôi trên vú mẹ

Lớn lên

Chòng chành thác người

Hoàng hôn em từ buổi bình minh

Rồi một ngày em phát tài trên đường biên ký ức trái ngực uống cạn trăng dồn mây thành áp thấp kẻ đường viền trên mắt bão kiêu sa

Em thôi buồn, mình trần, tóc mây kiễng chân làm tình với sao bên dốc người chạng vạng

Đêm đêm giấc mơ mổ vào quả trứng chú vịt con xoè đuôi giục vọng, tưởng che được hết bầu trời, tưởng mình là đốm thiên di…

 

Lấp lánh ước lệ trái vú đam mê quên đường về, những ngón tay búp măng bấm vào đức hạnh nắn mãi không tan giọt dại khờ.

Một ngày.

Em khóc đổ mùa, cố nhào nặn niềm vui đại hạ giá bằng dấu chấm hỏi cổ đại

Chảy về đâu?

6 giờ…

 

.

CÂY KÝ ỨC

Cây ký ức

Nở trái xanh lá đỏ

Lửng lơ trên túi thời gian

 

Em cười

Hồn nhiên như sóng

Nhìn đôi còng gió cõng nhau đi

 

Em đến trú

Dưới căn nhà của bão

Rách mướp, te tua, sướt mướt vai gầy

 

Giày vạn dặm

Em gửi nhờ cây lá đỏ

Mùa nắng lên

Phơi mái trọ trần gian.

05/8/2007

Trần Thu Hà

.

AI XUI

Giá trị không hoàn lại

Sau cơn mưa

Bì bõm rác và bùn lẫn lộn

Đã lâu rồi

Lồng ngực bỏ hoang

 

Để

Bàn tay khước từ bàn tay

Dấu ngắt nhịp không đúng chỗ, tạo nên đảo phách liên hồi

Ai xui dấu chấm dôi

Cho con tim lạc lối.

 

Để

Lời hứa trượt dài trên độ cong trái cấm

Phát huy hết quyền năng tự có

Ai xui cặp mắt viền chỉ đỏ…

 

Để

Bước chân lang thang

Giá trị không hoàn lại

Nực cười

 

Khi

Nhìn vịt trời mượn xiêm áo thiên nga

Ai xui

Vay hơi thở

Khi

Bình ôxy hết hạn.

.

TAY THÁP BÚT

Tay tháp bút

Che nắng, che mưa, che cao, che thấp

Che bảy sắc cầu vồng, che khuyết vầng trăng

 

Này là anh

Này là em

Này là nụ cười, là vòng tay lộc biếc

Mây ngũ sắc loạn trời dâng tiệc

Em dậy thì

Em dậy thì

Mê tơi rằm trăng

Là bàn tay búp măng

Che nắng, che mưa, che cao, che thấp

Che từng bước anh đi

Che từng ly rượu mạnh

Em dậy thì

Em dậy thì

Mê tơi rằm trăng

Này là búp măng

Này là bàn tay tháp bút

Bời bời thức

Bời bời say

 

 

20/2/2008

 

.

HOA ĐỊNH MỆNH

 

Chắp vá

Chắp vá

Tôi cố khâu tiếng cười chưa rộ chân chim

Gửi e-mail tặng Xuý Vân giả dại

Hết chỉ

Mượn tia nắng xâu qua lỗ kim

Cứ tưởng

Cứ tưởng… vành khuyên là hạnh phúc

Ô hay

Lỗ kim tròn định mệnh

 

Tôi xâu thời gian

Hạt lép lọt tay

Hạt dày ngâu lút mắt

Thời gian

Tôi xâu thành cườm treo trên cổ leng keng úp mở thị phi

 

Thời gian

Tia nắng bò qua lỗ kim

Nở hoa văn

Định mệnh.

.

 

XUÂN

 

Em vấn lại

Một bờ trăng

Con gái

Gió cuồng say

Thả tóc

Cưỡi lưng ong

Sông vẫn chảy

Đôi bờ sa nhũ ngọc

Chốn bồng đào

Khuất nẻo

Dấu chân son

Em chạm bến

Trái bòng xanh trổ biếc

Cánh tay mềm

Thắt dải yếm

Mưa ngâu

Trái tim hát

Gọi bầy mưa con gái

Rủ nhau về

Dáng ngọc phập phồng xuân.

12/12/2008

TRẦN THU HÀ

.

 

THẾ GIỚI VẬT LIỆU TỐI

 

Nhắm mắt

Một thế giới không có ánh sáng

Tiếng cười bị khoá chặt

Con sóc có bộ lông màu hạt dẻ thích lúc lắc khoe đuôi sẽ bị hoá thạch

Loài hoa thích toả hương mỉm môi khô đét

Non tơ giấu mình trong hộp đêm sẽ làm đại tiệc cho đất

Thăm thẳm đen

Không cao thấp- giàu nghèo!

 

Bóng đen không thể trao vương miện cho loài chim có giọng hát hay làm nghiêng ngả sân chơi

Bóng đen không thể cấp môn bài cho ngôn ngữ đã bị nhuộm chàm, bị chấn hưng bởi loài thuốc kích thích

Dấu lặng đòi phát sóng

Tín hiệu của loài trê vàng quẫy đuôi trong nhà mồ

 

Mở mắt

Triệu triệu đoá hoa khoe môi hồng mê hoặc, một dòng chảy trong vắt từ kiếp trước vắt qua vai em mười bảy

Đường cong phố núi hiện ra

Tiếng khèn môi chở hơi thở em lóng lánh ươm phố bổ sung đường bay một chiều

Cài chiết áp vào giấc mơ

Không kịp rêu.

NỐT TRẦM

Người ơi

Trầu têm cánh phượng trăm năm, đợi ngày về một đêm cỏ hát

Bạc mặt người…Vỗ trắng phau phau

-Ta như bờ hoang mà sao người bón xới sợ lạc rằm xui mắt rưng rưng

Ngày giới nghiêm mắt còn e quá trẻ

Không kịp nhận ra mùi mật ngọt trong hoa

Thời gian

Mút tay thon con gái

Lặng câm ngân một nốt trầm

Em khản giọng kiếm tìm dấu xưa

Gặp đường mê gấp khúc

Gặp nghĩa địa không màu

Em mở mắt nhận nụ hôn phù phiếm

Mưa đầu ghềnh, em tím tái phía hoàng hôn

Mặc niệm giấc mơ phải tôn vinh trò ảo thuật

Gặm mòn ước lệ, uống mòn mắt cay

Người ơi

Ta như ngã say mà sao người phải lụy, ta như trái me non chưa kịp chua mà sao người phải kiếm tìm?

Người ơi

Trăm năm

ngân một

nốt trầm

Trái tim

tỉnh - thức

ngấm dần

nỗi đau.

.

.

MỘT MÌNH

Ngày hoe xanh

Em

Tu viện ngâm mình trong đáy mắt đại dương anh mênh mông mênh mông

Nâu sồng đường chân trời

Em toạ thiền trong giấc mơ đúp miên man miên man

Một mình em

Vâng

Đốt ngày chưa kịp hoá

Nghìn nghịt sóng em

Nghìn nghịt vân tay cùng điểm chỉ

Bươn bả

Xói mòn

Rồi

Lặng lẽ bóc mình ngoài cuộc

Ngày hoe xanh

Em

Loi choi trong dòng chảy.

.

NƯỚC MẮT KHÔNG THỂ TRƯNG BÀY

Giữa trận kiếp mê hoặc

Không thánh đồ

Không kịp nhận ra nhau

Một kiếp phù du, đơn điệu giữa dàn nhạc khổng lồ, thanh la nhịp phách, luyến láy cô đơn.

Ta lăn lóc giữa tiết tấu bật sáng, giữa giọng hát khê nồng, lửa mê hoặc ngút ngát thiêu.

Ta đã kịp nhận ra ta

Sống hộ ai đó, nói hộ ai đó, cười khóc hộ ai đó.

Nước mắt không thể trưng bày

Khi- những ý nghĩ vẹo vọ.

Cặp vú thời thượng tưởng mình to hết cỡ ước mơ của sắc màu kỳ nhông

Ta đã nhận ra giữa hoang không thậm thĩ

Thời gian là dòng chảy huyền thoại

Bao tên người, dòng họ khuất lấp

Ôi! Những dấu chân bạc màu, những ngôi mộ cổ…san bằng mọi ham muốn

Nước mắt không thể trưng bày

Khi

Dòng chảy huyền thoại găm vào tim nghẽn mạch.

.

THÁNG 5

Tháng 5

Nghiêng vai đội cơn khát

Tong tả

Giọt giọt số phận

Rỉnh rảng ngày

Hỉ hả

Tháng 5

Tầng tầng kiến trúc người mở khoang trời tập vi vu nói

Tập

Dư dật nhân từ

Tập

Mau mau quên

Tập

Mau mau nhớ

Thả phanh

Sợi ròng rọc tự do chạy khúc khích số phận

Rỉnh rảng ngày

Bước

Hầm hập

Thành quách nắng

Ồn ã bóng

Rêu phong ngói

Tháng 5.

.

VIẾT TRONG NHỮNG NGÀY MƯA HÀ NỘI

Mưa trắng đường

Hà Nội, băng băng nước

Gỡ những giọt mưa găm vào tim buôn buốt

Mưa

Sụt sùi va đập

Ẩn ức giật

Lều phều rác

Bước chân ngập

Ngày buồn – không ai chống chèo ngõ cụt

Long tong

Những giọt lương tâm leo qua cửa thiền vụng về

Ánh sáng tranh nhau thở

Phố dăng dăng

Tiếng lòng nhão

Mắt vũ điệu

Mưa cuồng si

Bản tấu phút giây thác nghiệt

Hà Nội nước và nước

Nhà nhà thành ốc đảo

Tự xé mình bằng những câu thơ kết tủa như loài thuỷ mặc

Ô giăng – xì xụp – công kênh – mò mẫm

Hãy gồng mình tỉnh táo, tránh sập hầm sập cống

Nắng đã lên

Mặt trời là vọng gác

Nhắc chi những ngày ở cùng với nước

Cũng hay

Nếu không mưa

Biết nơi nào cao thấp.

.

GIẤC MƠ BỘI THỰC

Em nghìn tuổi chân dài môi thế kỷ

Hát về một thời hoàng kim mất ngủ

Ru trên tay với giấc mơ tiên

Một ngày. Vi rút xâm nhập, tầng Ô Dôn bị thủng trái đất già lên men.

Mọi người chạy xô trên cầu bập bênh trượt giá

Dập cầu dao _ Đô la _ Vàng vẫn chảy máu không ngưng.

Thịt tăng trọng sạch ư?

Rau xanh qua một đêm tăng tốc

Cuộc sống hối hả như ngựa phi nước đại

Những cao ốc nhà lầu, sân gôn mọc lênbán mua nhân cách

Trên cao.

Hành tinh cũng đấu giá các vì sao

Nói chi đến lẹt phẹt mấy giải cờ người bọn chân dày đá què chân đất.

Trọng tài ư?

Họ còn lo làm đẹp … Thần tài

Chao ôi! Chỉ có đớn hèn gặm mòn sự thật

Còn mấy giọt lương tâm leo lét trước cửa thiền

Chuông chùa vẫn đổ

Mõ chùa vẫn vang

Phật vẫn cười _ Mấy nghìn năm một nụ cười độ lượng khi lá ngọc cành vàng đang nghi ngút sớm hôm

Em nghìn tuổi lưng ong môi thế kỷ

Tự lúc nào thành tiết tấu bão dông

Đánh sập kiến trúc bao đời bẻ cong công lý

Những con sâu đục than nuốt chửng mùa xuân

Em bán hết danh phận mua chút phấn son lòe loẹt

Nào ngờ… Dị ứng

Mất hết gia tài không đủ chuộc mùa đau

Bội thực giấc mơ

Siêu âm thấy điều giả dối, vết thương lòng tấy đỏ di căn

Em nghìn tuổi chân dài môi thế kỷ

Mơ một lần thế chấp cả tuổi xuân

Đã đến lúc

Không còn tin mình nữa

Bởi - Điều mình đang tin

Không dám tin vào điều mình đang thấy.

11/9/2011

.

***

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG TRÁI ĐẤT TỰ QUAY

HOÀNG THỤY ANH

 

.

Tác giả Hoàng Thụy Anh

NVTPHCM- Trái đất tự quay là chuyện thường của cõi đời. Nó quay, chuyển mình theo trục đứng. "Trái đất tự quay"[1] của Trần Thu Hà cũng quay nhưng quay theo vòng quay của người đàn bà. Người đàn bà tự quay, tự "bão hòa" mình với những vòng quay nghiệt ngã của cuộc sống. Chị thao tác từng bước để quen, để khỏi ngỡ ngàng trước những cám dỗ của thế giới hiện thực. Vòng quay ấy quen dần và chị thành "con rối" tự bao giờ.

Lê Tiến Dũng khi bàn về phong cách nhà văn, nhận định: "Phong cách của nhà văn là những đặc điểm tư tưởng nghệ thuật độc đáo của nhà văn có ý nghĩa thẩm mĩ và có tính chất ổn định tạo ra diện mạo tinh thần riêng của nhà văn đó"[2]. Trần Thu Hà có cái riêng của mình. Không chỉ xáo trộn, ngẫu hứng khi sử dụng các con chữ mà chị còn xoay chúng bằng vòng quay của chị. Vòng quay ấy đang tranh đua với vòng quay của trái đất. Tiếp xúc với mỗi vòng quay, người đọc mở ra các khía cạnh của cuộc đời người đàn bà.

 

Vòng quay từ độ xuân thì đến "cuối mùa tàn"

 

Chị không sex ngôn từ một cách táo bạo. Nhưng những mạch ngầm nổi loạn của cơ thể như đang kiềm tỏa ý thức của người đọc. Ngay cả ngón tay cũng trở thành điểm nóng của sự dậy thì trong người thiếu nữ. Bằng cách lặp cú pháp và chọn đúng từ, chị đã đẩy hết nội lực hừng hực:

Là bàn tay búp măng

Che nắng, che mưa, che cao, che thấp

Che từng bước anh đi

Che từng ly rượu mạnh

Em dậy thì

Em dậy thì

Mê tơi rằm trăng

 

Này là búp măng

Này là bàn tay tháp bút

Bời bời thức

Bời bời say

(Tay tháp bút)

Tuy nhiên, vòng quay xuân thì không dài. Từ giấc mơ “mê tơi” xuân thì, chị phân thân để tìm sự kỳ thú trong tình cảm đích thực. Ngôn từ không "bội thực", không sex nhưng lòng ham muốn tìm lại dấu yêu ngày xưa đã thổi tình vào khao khát của người đàn bà: Húp vã nhau/ Thánh thiện/ Những mảnh đời xì xụp găm vào sự ngọt ngào/Em phân thân/ Thắp sáng// Thói đời// Đoản hơi// Xin đừng hóa người dưng// Cho một lần/ Phân thân kỳ thú (Phân thân). Vớt vát niềm vui sau cùng của mình, nhan sắc cũng trở thành di sản – thứ di sản "cuối mùa tàn: Xa xỉ một xứ ngày/ Dấu chấm hỏi ngân dài quyền đặc trị ta bạc màu tim ta đi ngông/ Thin thít những khoang đùi nuồn nuột réo/ Ký ức như cái bóng/ Gì kia!/ Nhan sắc rêu phong...(Nhan sắc rêu phong). Để tái tạo lại nhan sắc thời trẻ, chị cố níu thời gian bằng mọi phương tiện có thể của người đàn bà: Lớp kem Mascarra sẽ làm "nỗi đau không rỉ"; thời gian được giấu bằng ngực nõn căng phồng... Chị hóa trang trong "trò chơi thẩm mỹ": Đêm sờ tay xoa dịu những dại khôn/ Mà chờ / Mà mong/ Mà vớt mình trên cọng rêu nhan sắc/ Ép la tích dấu ngày/ Em cố rót có đọng rồi lại rót tự nhiên với sở thích nhâm nhi cho hết ngày, bên em những khuôn mặt được cài đặt sắp sẵn hình thước thợ (Lời của đá).

Âm thanh não nùng của tiếng dế cộng cảm tiếng ru tâm hồn của người quả phụ, rung lên từng khoảnh khắc lo sợ của người đàn bà. Chúng hiện hữu ngay trong từng vết nứt của bàn chân. Đó là vết nứt của thời cuộc, của thời gian đời: Vũ trụ trắng/ 21 vòng khứ hồi – âm dương chẵn lẻ/ Giấc mơ đại lộ vượt cung cấm trườn về miền cổ tích/ Đánh dấu thập kỷ đôi vương miện. Hành hạ đôi chân trần được đo bằng vết nứt thời cuộc/ Ta nghe rõ hơi thở gấp gáp trong từng sợi tóc chuyển hệ/ Bái phục/ Những đứa con Hoang thăng hoa, đội vòng nguyệt quế (Vẫn còn nguyên khối).

Vòng quay của trái đất tuần hoàn, đều đặn. Vòng quay của đời người là hạn hữu. Nắm được quy luật ấy, chị hướng về những cái gì thánh thiện nhất, tươi đẹp nhất của hiện tại để tạo dựng một tương lai tuyệt đẹp: Ta hữu hạn giữa vòng quay vô định/ Nhìn hơi thở khoác gông cùm/ Ôi! Trong đêm tối đen ngòm khi tôi nghĩ về điều tồi tệ nhất/ Phải thiêu đốt con tim man trá, đừng khoác áo cầu vồng trốn chạy thực tại// Một ngày/ Hãy thư giãn/ Để mọi căng thẳng đớn hèn rời bỏ thân xác (Ta hữu hạn giữa vòng quay vô định). Khi vòng quay đến thời kì "cuối mùa" như nhan sắc của người đàn bà thì chị lại khát khao được trở về với chính mình – nơi cái ta có thể hiện hữu an toàn nhất trước thời cuộc này. Ở đó, chị đã tìm thấy chính mình, tìm thấy vòng quay đích thực của thơ và của đời: Ta đã uống căng ê hề chữ/ Không khí chữ, tạp âm chữ, con còng chữ thất bát mù khơi/ Cho ta về với ta mùa trăng nghèo lạm phát/ Xin một đêm chín tái, nhắm nhau, giấc mơ thiền không độ.../ Này ơ!/ Cho ta về với ta (Ta về với ta).

Mới khát khao về với ta, về với bản ngã của mình, chị lại tuyên ngôn "Thông điệp của sự hồi sinh". Chị không chịu lệ thuộc, tâm thế bị động mà luôn tìm cách để bứt phá khỏi guồng quay mặc định của cuộc đời. Nguồn cảm hứng thơ đã giúp chị đứng vững trên đôi chân của mình:

Cõng trên lưng nguồn cảm hứng, bóc hết vỏ sần sùi

Nắn lại dòng chảy

Vượt qua chính mình

Không nhìn lũ kiền kiền

Không nghe lũ khiếu

(Thông điệp của sự hồi sinh)

Như vậy, tiếp bước, dõi theo hành trình quay của người đàn bà, từ sự chấp nhận, thỏa hiệp, bứt phá đến sự vượt rào về với bản ngã và di ngôn: "Ngày mới/ Lấp đầy khoảng trống/ Hôn lên dấu chân em là sự tỉa tót của dòng chảy" (Thông điệp của hồi sinh), chúng ta mới thấu hiểu nghị lực của người đàn bà thơ. Mượn thơ để đánh đu cuộc chơi của mình với đời.

 

Vòng quay "huých bầm tim chị"

 

Ở "Trái đất tự quay", người đọc còn chứng kiến vòng quay của nỗi nhớ, tiếc thương về những người thân của chị. Đó là hình ảnh em trai mang theo tuổi xuân của mình vào chiến trường. Nụ cười tuổi mười sáu mãi mãi vùi trong đất. Nhưng nụ cười ấy không tan biến mà hóa thành vẻ đẹp bất tử: Sục sôi/ Chị nghe con tim tứa máu/ Em trai ơi/ Tuổi mười sáu/ Có nụ cười vùi trong đất hóa trăng (Em trai tôi). Trần Thu Hà đã chuyển tải hết thảy tình cảm của mình dành cho em. Trên vai ấy, là gánh của nước mắt chị, của mẹ, là niềm vui của em: Chị cõng em/ Cõng cả niềm vui mới lớn/ Cõng cả chiếc ba lô lỗ chỗ vết thủng/ Cõng cả mùi súng đạn còn vương/ Cõng cả dấu vân tay còn in trên vô lăng tàu phóng lôi ngày ấy/ Yên nào/ Giờ chị cõng em về với mẹ (Về những trái thủy lôi chưa phóng...)

Mỗi nhà thơ là một sáng tạo. Họ mang đến những trường liên tưởng đầy nghệ thuật. Trần Thu Hà phát huy liên tưởng của mình bằng hình ảnh ấn tượng: Tôi đứng lặng trước tượng đài các chị/ Ngắm nhìn/ Vệt khói hương vẽ cong hình chữ S (Vòng hoa trắng). Chữ S đã trở thành tâm điểm của bài thơ. Nén nhang dành cho người của 40 năm trước thỏa khát vọng hồn người:

Bốn mươi năm – nhát cuốc bổ ánh ngày dựng tóc

Những hốc mắt

Sống – chết – Nhìn

Nỗi buồn xông đất

Nén nhang đỏ... đỏ như mắt người thân

Bốn mươi năm

Chim ngưng hót sau rừng cây lá mục

Cửa đã mở...

Ước muốn

Hồn người không bị xơ cứng

(Anh tôi)

Nếu ở vòng quay trước, người đàn bà thể hiện khát vọng giải thoát thì ở vòng quay này, nước mắt không chực chảy ra ngoài mà nó đã ngấm vào bên trong, cô đặc trái tim tím bầm trước mất mát vô biên của người đàn bà. Tấm lòng đầy nhân bản của chị như bay lên cùng đài hoa trắng.

Nhưng cuộc chơi ấy đâu chỉ có sắc thái của vòng quay mà còn là chất liệu của vòng quay.

 

Vòng quay của con chữ

 

Chị không câu nệ câu chữ, nhưng con chữ cứ như một ma lực tự dấn thân vào guồng siêu thực: Ngực nhú đá/ Hú gọi/ Mầm lách tách/ Nhụy thơm dâng tràn (Hú gọi). Chị đến với những giấc mơ kỳ lạ, giấc mơ kỳ nhông, giấc mơ quấn mình trong tổ kén anh. Giấc mơ kỳ lạ được lắp ghép bằng những mảnh vỡ của thân xác để mở ra những đường biên của nó, nhịp giấc mơ cũng chính là nhịp thiên đường:

Tiếng dế quả phụ

Mẫn cảm với vương quốc của mình

...

Giấc mơ

Vũ trụ trắng

21 vòng khứ hồi

Có còn nguyên khối?

Tiếng dế quả phụ lánh lót rung chuông

(Vẫn còn nguyên khối)

Hướng về mặt khác của vòng quay, người đàn bà ấy đang đè nén những nỗi đau thương của mình trước sự nghiệt ngã của thời gian. Thời gian của tuổi xuân thì nhưng cũng là thời gian của sự lo lắng. Chị lo lắng về tuổi tác, nhan sắc của mình. Lo lắng khi tuổi xuân qua đi là duyên tiền định của tất cả những người phụ nữ. Nỗi niềm nỉ non như tiếng dế ngoài xa.

Trái đất tự quay bằng trục riêng của nó. Thơ Trần Thu Hà cũng quay bằng trục riêng: trục lặp, trục phân rã, trục liệt kê, trục bậc thang... Không cố định mỗi vòng quay, thơ chị mở ra những vòng ngắn, vòng dài. Vòng ngắn nhất cho sự sinh nở câu thơ là 1 chữ. Vòng dài nhất là 48 chữ. Dạng thức kết hợp này tạo nên những đứt nối trong chiều sâu nội dung thơ của chị. Với câu 1 chữ, tứ thơ chông chênh, chao đảo nhưng vẫn kiên định bởi chị đã tập cho mình thói quen không chóng mặt. Người đọc cũng theo đó mà tập. Tập ngay từ vòng quay đầu tiên. Và đó cũng là sự bám trụ của người đàn bà giữa "vòng xoáy cuộc đời": Em/ Nhón chân nhẹ nhàng bước qua ô cửa óng ả mưa/ Múi thịt hân hoan/ Ngực làm đòng/ Đường cong ríu rít thở// Em/ Người đàn bà tập ru mình thon thả giữa cơn giông (Người đàn bà tập ru mình thon thả). Người đàn bà sẵn sàng háo hức kể chuyện mình mà bày với anh, với cả đất trời, vũ trụ về nỗi nhớ, nỗi chờ đợi, nỗi buồn và nỗi khát... như vầng trăng độ dậy thì, như biển thửa hồng hoang, cháy hết mình với "vầng trăng đam mê". Dòng chảy ấy miên man theo nhịp lòng và tuôn trào một cách tự do:

Em háo hức kể về quá khứ, về tương lai về những hạt bụi đời em sẽ bay... bay qua kẽ nhớ, lọt xuống kẽ tay, trở về ngày hồng hoang dày mắt nhớ, cái nhìn chai dại như nhật nguyệt ăn nhau

 

Đâu rồi

Anh

Thương nhớ biếc

Xóm nghèo xòe hoa mê

Em còm cõi vác nỗi buồn đi giấu

Ngoài kia bóng nắng rơi xiên

(Biển cháy)

Duyên nợ "Tình bậc thang"[3] đồng vọng, ngân dài hơn ở "Trái đất tự quay". Nếu "Tình bậc thang" là thanh âm của hai lần nhịp thì ở "Trái đất tự quay" là bản hòa tấu như người gieo vãi hạt giống thơ bằng nhịp bằng trắc. Nhịp bằng như bậc thang bước 2 lần. Nhịp trắc như bậc thang trải 3 bước. Ngỡ hồ, chúng hỗn độn nhưng bên trong là sự kết dính tinh tế của nội lực: em – xuân.

Em vấn lại

Một bờ trăng

Con gái

Gió cuồng say

Thả tóc

Cưới lưng ong

Sông vẫn chảy

Đôi bờ sa nhũ ngọc

Chốn bồng đào

Khuất nẻo

Dấu chân son

(Xuân)

Nhịp biến tấu như những đường cong trên cơ thể người đẹp. Trần Thu Hà đâu chỉ để ngôn từ diễn đạt cơ thể mà hình thức trình diễn thơ cũng đã phô bày đường cong của em.

Bậc thang đôi, bậc ngắn và bậc dài cũng được chị xâu chuỗi lồng vào những giả định – điều không thể xảy ra trong cuộc sống của tạo vật. Với bậc thang ngắn, chị đưa ra vế giả định "Nếu em không làm thơ". Với bậc thang dài, chị luận giải và tuyên ngôn triết lý: tính yêu không bao giờ chết nghĩa là em không bao giờ ngừng làm thơ:

Nếu em không làm thơ

Trái đất thôi quay, không còn nghe lời thầm thì

của em sau mỗi cơn giông, trái đất sẽ vụn ra như em đã từng vỡ vụn

 

Nếu em không làm thơ

Đâu tìm ra thế giới đàn ông...

Để "Trình làng" những bài thơ nổi loạn

Rằng:

Tình yêu ơi

Không chết bao giờ

(Nếu em không làm thơ)

Chị quay đủ hướng, đủ phương diện, góc cạnh: từ hình thức đến tinh thần. Dường như, con người luôn bất lực trước thời gian, bất lực trước những mất mát đau thương. Mỗi vòng quay là một thế giới. Nó tung hứng người ta như trận chiến giữa các đối thủ. Do đó, chị phải tập quay để quen thuộc, để dấn thân vào thế giới ấy. Khi sự dấn thân đến độ say mê, vòng quay biến tấu đầy tính triết lý hơn:

Lưỡi – Giải khát qua lăng kính nồng nàn phép lạ

Lưỡi – Đầu thai hơi thở dùm nhau

...

Lưỡi – Sợi dây thòng lọng treo lơ lửng với bình hơi hết hạn

Lưỡi

Lưỡi

Lưỡi

Lưỡi

Lưỡi

Lưỡi

Và biết bao cái lưỡi

Cứ dài ra, dài ra, dài ra

Đấu thầu nhân quả

(Biến tấu lưỡi)

Tuy nhiên, những ý tưởng thơ như thế này chưa xuất hiện nhiều trong tập "Trái đất tự quay". Hi vọng được tiếp tục tận hưởng những vòng quay vô tận nhưng đầy triết lý của chị trong hành trình thơ.

"Thơ có mục đích đưa những cảm giác vào tâm hồn người đọc, và gợi những hình ảnh trong trí họ, nhưng không phải bằng cách tả những cảm giác và các hình ảnh đó. Ấy là nhờ một thứ phương tiện bí mật và phức tạp hơn nhiều" (Thesodore De Banville). "Trái đất tự quay" tiềm ẩn những bí mật ấy. Nó vẫn đang chờ đợi những khám phá của độc giả lý tưởng.

Đồng Hới, ngày 1-3-2010

H.T.A

--------------

[1]. Trần Thu Hà, Trái đất tự quay, NXB Hội nhà văn, 2009. Tác phẩm đạt Giải thưởng Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam tại Hà Nội (giải C, không có giải A) vào ngày 18-12-2010.

[2]. Lê Tiến Dũng, Nhà văn và phong cách, NXB Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, tr. 24.

[3]. Trần Thu Hà, Tình bậc thang, NXB Hội nhà văn, 2006.

NGUỒN: http://nhavantphcm.com.vn/the-gioi-sach/trai-dat-tu-quay-tho-tran-thu-ha.html

***

 

ĐỌC HAI TẬP THƠ CỦA TRẦN THU HÀ

Hồng Nhu

Nhà văn Hồng Nhu

Đó là “Tình bậc thang” (NXB Hội Nhà văn 2006) và “Mặt cắt” (NXB Hội Nhà văn 2007) của một nữ thi sĩ mà cho đến nay không nhiều người biết đến, ít nhất là trong làng thơ. Vì một lẽ rất giản đơn: chị mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vài ba năm nay thôi.

Xin được phép dẫn hơi xa một chút trước khi nhập đề. Tôi, người viết bài này, là người mới dám làm thơ khi đã ngoài ngũ thập, cụ thể là khi đã 53 tuổi đầu, tóc trên đầu đã bạc xóa. Bởi vì hắn ta quan niệm “Thơ là loại hình khó nhất trong các loại hình sáng tác văn chương” (Thơ chọn lọc - NXB Văn học, 2006). Ấy vậy nhưng thơ của hắn ta chẳng có gì mới mẻ, chỉ là “truyền thống” kiểu như “Ngẫu hứng về chiều”, “Nước mắt đàn ông”, “Rêu đá”… mà nhiều bạn bè đồng nghiệp đã từng nhắc tới. Người ta nhắc tới không phải vì thơ hay thơ lạ mà vì thơ có cảm xúc thật, có thể gọn vài chữ như thế.

Trần Thu Hà hơn hắn ta ít nhất hai điều: một là chị cho in tập thơ đầu tiên khi đã 56 tuổi; hai là các nhan đề sách thơ đã vượt ra khỏi lối cũ xưa mòn lâu nay, mở ra một lối nghĩ khác: Tình bậc thangMặt cắt. Tại sao lại như vậy? Để cố tình làm khác người, để câu khách chăng? Không, hoàn toàn không! Trần Thu Hà giãi bày lòng mình, nói toạc ra là những mối tình của chị như những bậc thang khốn khổ và đớn đau, đầy trắc trở và lắm gian truân. Chị chẻ mình ra thành những mặt cắt rồi ngẫm suy, và từ những lát cắt đó, chị tìm thấy những gì ở cuộc đời mình để sống tiếp, ngõ hầu làm cho nó tốt hơn, đẹp hơn.

Ba mươi lăm bài tập đầu, bốn mươi ba bài tập thứ hai trong hai năm liền nhau. Trong bảy mươi tám bài thơ đó - theo thẩm của riêng tôi - có ít nhất gần 50 bài có thể xếp vào loại hay và mới lạ. Hay chưa chắc đã mới, ngược lại mới chưa chắc đã hay, lẽ thường tình là vậy. Nhưng ở cây bút nữ này, tôi cho được cả hai như đã nói ở trên. Hãy đọc:

“Câu thơ bậc thang/ chùm ba chùm bảy/ Thơ thở ra khói/ Nói điều thật buồn/ Câu thơ khất thực/ Nói điều mơ xanh/ Còn em còn anh/ Chùm ba chùm bảy/ Tung lên trời xanh/ Ta là mây trắng/ Tung vào khoảng vắng/ Ta là hư vô/ Thuở còn ấu thơ/ Ta còn mắt biếc/ Bây giờ không anh/ Ta thành câm điếc”. (Thơ tình bậc thang)

Bất cứ nhà thơ nào cũng có mảng thơ tình của mình. Trần Thu Hà không nằm ngoài thông lệ đó. Nhưng, rõ ràng chị có cách diễn đạt riêng trên cơ sở khuynh hướng cảm xúc riêng và chủ đề chung. Tình bậc thang là tình gì, nó ra sao? Thử khảo sát vài ba trường hợp của vài nhà thơ nữ thành danh đã lâu: Nếu như Xuân Quỳnh là “Ánh trăng góc cạnh, cháy bỏng và dào dạt của vầng mặt trời giữa ngọ”; Lâm Thị Mỹ Dạ là “Ánh trăng xanh êm đềm, dịu mát khoảng nửa đêm về sáng” (Trần Đăng Khoa); thì ở đây, Trần Thu Hà mồ hôi mồ kê nhễ nhại, vật vã đến mức thở ra khói như đang leo ruộng bậc thang ở sườn đồi nơi vùng núi non trùng điệp. Trong trái tim yêu thương độc đáo ấy của Trần Thu Hà, chúng ta thấy sự đằm thắm, thổn thức… không có chỗ để len vào, những giọt nước mắt của sự nũng nịu, dỗi hờn… cũng không tìm được kẽ hở nào để rơi xuống.

“Tháng ba/ Thời gian/ Giọt nước mắt người dưng/ Em đừng bắc cầu vồng lên câu thơ cũ/… Em cởi áo đồng trinh/ Lau thời lam lũ…” (Biểu đồ thời gian)

Và đây:

“Đường gập ghềnh em bấm còi đa hệ/ Tình yêu/ Khai sinh cuộc sống/ Cơn đói anh mọc cánh vào em…” (Cược).

Táo bạo, quyết liệt, hơi có vẻ bất cần, nhưng không bất chấp. Bất chấp mới là điều không nên, mới đáng trách. Chiếc còi đa hệ của Trần Thu Hà thổi ré lên cơn đói anh, không phải chỉ để thỏa nỗi khao khát của cá nhân mình mà còn để khai sinh tình yêu của bao nhiêu người khác như chị và không như chị trên đời này, trong đó có chị đầy gập ghềnh và cheo leo trong cuộc sống riêng tư. Sinh ra trong một gia đình mà phần lớn anh chị em đều làm nghệ thuật. Anh trai là họa sĩ có “mác”, chị gái cũng là nghệ sĩ tạo hình nhà làm tranh cát nổi tiếng Trần Thị Thu, từng được huy chương vàng và danh hiệu “Bàn tay vàng” năm 2005 trên toàn quốc. Mười bảy tuổi vào đoàn văn công Nghệ An đánh đàn thập lục trong dàn nhạc, nghĩa là chẳng ai biết tới mỗi khi có một thành công của đoàn. Những năm đó ở đoàn văn công này, các chị Minh Ngọc, Thanh Xuân và Song Thao mới nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà cả nước. Mười năm sau, Trần Thu Hà rời đoàn, làm giáo viên dạy nhạc ở trường bồi dưỡng giáo viên huyện Nghĩa Đàn, một huyện vùng núi Nghệ An, cho đến lúc về hưu; nghĩa là cũng “vô danh” luôn. Chị đã từng nhiều năm nổi trôi khắp chốn, từ thành thị đến thôn quê, cả đến vùng núi non hiểm trở, nơi sào huyệt của “lâm tặc”, “thạch tặc”… để buôn bán vàng tấm đá đỏ… mưu sinh. Chị có một con trai duy nhất. Rất không may, cháu vướng vào cảnh nghiện ngập. Một người mẹ có con một mà lâm vào cảnh ấy, thử hỏi có ai không đau đớn dày vò, có ai còn thấy hạnh phúc thảnh thơi?

Trước khi đến với thơ, Trần Thu Hà đã sống lăn lộn và dữ dội như vậy. Song, chị là người phụ nữ như bao người phụ nữ khác trên thế gian, cũng sinh hoạt ăn uống, lấy chồng sinh con, cũng yêu đương, hạnh phúc, khổ đau, giận hờn… Trần Thu Hà khi yêu cũng có lần dại khờ, hoang phí và nhầm lẫn vân vân… như “Mũi tên bay không cần mai phục/ rơi/ rơi…” Cái khác của chị - nếu có thể nói - là chẳng giống một ai, chỉ riêng chị mới có, một nội lực tôi gọi là vô song, rất Trần Thu Hà: “Ngực rỉ máu sau mỗi lần va quệt/ Cánh rừng nguyên sinh nảy búp măng tự tình làm môi em biếc/ Gió lục soát đa tình mùa anh phê phê vết cắn…/ Em/ Lục giác đa chiều/ Môi biếc cùng anh” (Yêu)

Chín chữ kết thúc bài thơ chia làm ba câu, là một nỗi ngập ngừng đắm đuối thẳm sâu, đầy nữ tính và khơi gợi. Đồng thời, rất khó nhọc…!

Làng Lòi ở Yên Thành Nghệ An là một cái làng đặc biệt. Đó là nơi mà những chị em Thanh niên xung phong thời chống Mỹ đã quá lứa tập họp lại, thành một làng không chồng. Viết về cái làng này, đã có nhiều truyện nhiều thơ, nhiều bài báo trên các báo, tạp chí… nhiều năm qua. Nói chung - không biết có đúng không - các tác phẩm trên chỉ làm người đọc thấy thương tâm, thấy buồn thay cho họ. Nhưng đến Trần Thu Hà, chị khai thác khía cạnh đau đớn nhất, khát khao nhất - rất con người - của họ. Phải chăng đó là tính nhân văn cao cả mà chị đã phát hiện ra?

“Làng Lòi nằm úp thìa/ Chỏng chơ gió cát/ Chị nuốt khan/ Em cũng nuốt chay…

Cơn khát cuồng điên - cơn khát thịt da, cơn khát kinh niên/ Nỗi buồn rơi tự do em rên em gọi/ Anh trắng tinh, em cũng trắng tinh…”

Rồi điều gì đến tất phải đến. Hiện thực cuộc sống mà! “Làng Lòi nằm úp thìa/ soi gương soi những đứa trẻ không cha/ Hơ hớ trắng/ Hơ hớ vầng trăng bóc vỏ/ Làng Lòi trở dạ/ Làng Lòi như mơ” (Làng Lòi).

Sex đấy thôi. Thật sự Sex! Nhưng không hề thấy tục. Chỉ thấy đẹp và cao sang!

Nếu như tập thơ đầu “Tình bậc thang”, nói như nhà văn Nguyễn Quang Hà là “Những câu thơ đi tìm mình” (Lời tựa) thì tập thơ tiếp “Mặt cắt” là sự thể hiện mình, sự chiêm nghiệm mình. Trần Thu Hà không lập ngôn như một số nhà thơ đàn anh đàn chị; chị chỉ diễn ngôn và lập ý theo cái cách của riêng mình, cái cách mà nhà thơ Thạch Quỳ đã nói: “Ở tập thơ này, cái mới đã tìm ra chữ của nó.”

Chị khá công phu trong việc làm nổi bật sắc màu riêng biệt những chi tiết cựa quậy của cuộc sống thời hiện đại đang diễn ra; mà mới nhìn qua tưởng chừng như rối loạn, xô bồ, vô định hướng. Ấy là đóng góp nghệ thuật bất ngờ và đáng giá của chị - tôi nghĩ. Trong số lượng hàng năm của thơ đại trà tứ xứ hiện nay ở nước ta, có biết bao là cái tên trên các nhan đề tập thơ xuất hiện khắp nơi; và than ôi, chúng tan biến đi đâu trong dòng đời… vô tận! Trần Thu Hà là một trong số hiếm hoi giữ được người đọc thơ vốn cũng hiếm hoi và khó tính hiện nay. Chị trải đời, có thể gọi được là “già đời” - mà vẫn hồn hậu, trẻ trung đến lạ! “Linh hồn vỡ/ Buồn như đá ngủ/ Cơn sốt ký sinh/ Khuôn mặt - tấm gia huy tháng năm lồng ghép/… Em cười/ Đá nở hoa…” (Hoa đá).

Chị vẽ chân dung mình: “Thiếu phụ/ Giấu nụ cười sau chùm chìa khóa/… Tiếng thức hồi xuân/ Cơn mưa lãng đãng rơi/ Điệp khúc biến tấu trên các vì sao, những nụ hôn ru nhau bùng cháy”

Chưa ai tự ký họa mình - dĩ nhiên là ký họa nội tâm - khơi mở và thâm thúy như Trần Thu Hà: “Ác phụ râu xanh hờn ghen với em đang độ mùa thai nghén/ Con mắt mọc dọc giữa trái yêu không giết nổi sự đoan trang/ Của người đàn bà đa cảm…/ Mùa xuân đánh ghen với em”. (Ký họa chân dung)

Đó là sự tự thể hiện mình khá lạ lùng mà chân thực của người thơ. Mặt khác, người đàn bà ngót sáu mươi nhưng còn rất trẻ đẹp này chiêm nghiệm cái gì, điều gì? Tuổi tác đâu còn ít để mà lai láng, mà tuôn trào? “Trong trò chơi ú tim/ Tôi là người thắng cuộc/ Trò chơi vừa kết thúc/ Tôi chẳng tìm thấy tôi/ Ngày tháng đã xa xôi/ Chưa dễ qua khôn dại/ Bất chợt ở cuối đời/ Trò ú tim lập lại” (Ú tim)

Và đây nữa:

“Còn một chút tình/ Xin ngâm vào bình rượu đắng/ Còn một chút tiền/ Xin ném vào cõi hư vô/ Còn một chút tài/ Xin một lần thử sức/ Còn chút sắc tàn/ Xin ép hong khô” (Không đề)

Tôi chủ ý chép y nguyên hai bài thơ ngắn của Trần Thu Hà trên để kết thúc bài viết nhỏ này. Nhỏ, vậy mà tôi đã loay hoay gần nửa năm nay mới có.

Thơ hay chỉ đọc và cảm. Khó viết, khó bình về nó.

Huế tháng 5/2009

H.N
(248/10-09)

NGUỒN: http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=4&catid=18&ID=3950&shname=D-c-hai-tap-tho-cua-Tran-Thu-Ha

.

.

Từ trái: Hoàng Vũ Thuật, Thần Thu Hà, Thạch Quỳ, Mai Văn Hoan, Nguyễn Quang Hà.

Tam Đảo ngày 16.9.2011. Ảnh: Võ Quê.

.

Từ phảii: Hoàng Vũ Thuật, Trần Thu Hà, Nguyễn Quang Hà, Mai Văn Hoan

Tam Đảo ngày 16.9.2011. Ảnh: Võ Quê.