Print

NHÀ THƠ VÕ PHƯỚC

Published Date
Written by Võ Quê
Hits: 7058

 Giới thiệu nhà thơ Võ Phước, hiện đang sinh sống, làm báo tại DakNông...

 

Copy of DSC00256

 

TRANG VĂN THƠ  VÕ PHƯỚC 

 

 

MÀU TÍM HUẾ  

 

Thuở ấy phượng hồng lơi lả dòng Hương

Người xưa chợt bâng khuâng: Màu tím Huế

Có phải em của thời thơ bé

Đem thần tiên thắp đỏ con đường

 

Mùa theo ngày hẹn với hoàng hôn

Em tóc xõa ta theo về líu quíu

Chiều ý hạ đêm mắt buồn con gái

Tím một màu vô thủy vô chung

 

Ngày xưa đi xao xác muôn trùng

Ôm vò võ lời tỏ tình qua quít

Ai bảo em hồn nhiên ngờ ngệch

Ta già trước tuổi mấy ai thương

 

Thêm tình si lật đật khôn lường

Hoang đổ từ đây bao mộng đẹp

Xin gìn giữ trong nhau tình thắm thiết

Dẫu bây chừ đôi ngã … tha phương

 

Đêm vẫn buồn vui cùng người Huế

Biết tìm đâu màu tím thuở ta thương

 

MÙA BÀNG LÁ

 

Mùa bàng lá xòe thơm lộc xinh

Dừng gót phiêu du gió tự tình

Ngàn sao tơ tưởng hoài không ngủ

Hao gầy đêm sợ chẳng bình minh

.

Ngày qua đi khắp cùng non nước

Bàng trong tôi muôn lối ngẩn ngơ

Ai gửi lại sắc màu phai úa

Nơi môi em nhàu nhạt mong chờ

.

Dẫu đến tàn xưa chẳng hề quên

Trao em ngần ấy mộng thần tiên

Nay bàng chững lại mùa xanh trước

Thèm được em hờn dỗi tôi thêm

.

Xin được về xưa để yêu em

Mùa xuân bàng lá cánh tay mềm

Ngày mai trở lại trần gian nữa

Bên đời lần hạt chuỗi hoa niên

 

 

NGƯỜI ĐÃ XA

 

Tưởng nhớ nhạc sĩ  Trịnh Công Sơn

 

Người đã xa rồi người có hay

Tiếng buồn chới với tận dâu đây

Sương mòn mõi cánh chiều Than Thở

Gương hồ xưa con nước chau mày

 

Cô đơn ơi !  sao cứ mãi cùng ta

Vượt suốí đèo muôn vạn ngày qua

Nắng mưa đâu dễ phai tình cũ ...

Trời bao la có thương mình ta

 

Ta buồn nước mắt buồn không mấy

Mãi cuốn trôi bao bể muộn sầu

Người đi chiếc áo nhàu phai nhuộm

Hẹn mãi phương nào mơ thâý nhau

 

Người đã bay lên đỉnh ngàn mây

Cung đàn lạc lõng nhạt nhèo thay

Đêm mơ  buông  khúc ca ly biệt

Theo gót hồn nhiên cõi đi về   ...

 

 

 

THƯƠNG HOÀI CÂU HÁT RU

 

 

3119537501_4532fa72c6_m by you.

 

Ước mơ trong vô số chiếc cầu đang hiện hữu, người đời thưởng tặng dẫu một lời ca… Bởi nơi ấy bắc qua sông suối, thác ghềnh người ta trải lòng yêu thương nơi ấy, yên lòng cho khách sang ngang… Ở Thừa Thiên - Huế, Cầu Ngói Thanh Toàn tồn tại như chứng minh cho hai tiếng " Tình người": Nhân ái là đức hào phóng khi con người hội đủ lòng nhân.

Từ khi chiếc cầu nhỏ nhắn có hình dáng một mái đình mảnh mai, cong vút bắc qua con sông đào Thanh Thuỷ, Thuỷ Thanh, Hương Thuỷ... cái tên ngồ ngộ "Cầu Ngói Thanh Toàn" ra đời cũng là lúc câu ca, khúc ca trong dân gian xướng lên tỏ lòng ngưỡng mộ người đã xây nên chiếc cầu có một không hai ở đất thần kinh. Chiếc cầu trở thành đề tài khơi nguồn cho bao nỗi lòng, cảm xúc: "Ai về Cầu Ngói Dạ Lê/ Cho em về với thăm quê bên chồng". Hẳn những ai là người dân Huế, khi xa xứ mà không mang theo câu ca... câu ca ấy luôn chập chờn cùng tiếng à ơ... làm man mác buồn, chạnh lòng người ru:

"Ai về Cầu Ngói Thanh Toàn

Cho em về với một đoàn cho vui"

Có thể bên trong còn chất chứa nỗi lòng mênh mang khôn xiết mà câu ca vượt ngưỡng thời gian, hiện hữu như nỗi buồn, niềm vui của bao người con xứ Huế trên chặng đường phiêu bồng hầu mưu sinh, câu ca ấy hiện thân của sức mạnh tinh thần, phép màu nghị lực giúp từng số phận con người vượt qua sóng gió, dập vùi... Câu ca không chỉ theo họ đến các vùng miền cao nguyên, trung du, vào Nam, ra Bắc... mà còn vượt muôn trùng đại dương tạo nên thanh âm đồng vọng tình hoài hương trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Điều vô cùng thú vị là câu ca luôn gợi niềm thân thương, gần gũi gắn bó hình ảnh chiếc cầu có mái ngói đình làng rêu phong rợp che. Nhiều người cho rằng đến Huế mà có dịp thưởng ngoạn công trình kiến trúc nghệ thuật dân gian, ngất ngây với hương trầm, hương mộc, thả hồn theo "Lối xưa xe ngựa..." tìm thăm Cầu Ngói Thanh Toàn, đi chợ quê, trò chuyện với dân làng... thì mãn nguyện thay một chuyến đi!

Câu chuyện xưa hiện vẫn lưu truyền trong dân gian rằng ở làng Thanh Thuỷ, Thuỷ Thanh... thế kỷ XVIII, có người đàn bà nhũ danh Trần Thị Đạo tự bỏ tiền của xây dựng chiếc cầu có cấu trúc ngôi đình duyên dáng, lạ mắt. Từ ấy chiếc cầu hữu tình, thơ mộng này đã thu hút nhiều lớp người già, trẻ, trai, gái hằng ngày thường nghỉ chân, tụ tập, hẹn hò... Những ai đến đây lòng cứ lẫn lộn giữa mơ hồ và khâm phục: "Đường vô xứ Huế quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ". Thương những người vỡ nhát đất đầu tiên làm nên vùng đất cố đô cho người sau thừa hưởng! Bởi đâu mà câu ca "Cầu Ngói Thanh Toàn" luôn roi rói tinh khôi nỗi niềm da diết quặn lòng bao người, bao thế hệ? Đường về Cầu Ngói cứ bồn chồn chạy giữa cánh đồng bao la, núi tiếp núi xa xa ra tới biển. Con đường này xưa kia chắc hẹp lắm, chỉ đủ để một người đi. Người nối người, bước nối bước giữa đồng không mông quạnh, côn trùng nỉ non: "Đến đây sông nước lạ lùng/ Tiếng con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh...".

 

THUONG%20HOAI

Nghe rằng ở Quảng Tây, Trung Quốc có những chiếc cầu được xây dựng na ná như Cầu Ngói Thanh Toàn, cũng cái kiểu "thượng gia hạ trì", "thượng gia hạ kiều", "khai phong kiều"... Chiếc cầu vừa giúp cho người đi đường sang sông an toàn, chở che họ những khi mưa gió thất thường. Xưa kia ở Trung Quốc, vào đời Đường, nhà thơ Đỗ Phủ đã từng day dứt: "Ước được nhà rộng muôn ngàn gian/ Che khắp thiên hạ, kẻ sĩ nghèo hân hoan...". Nguyễn Du cũng từng sùi sụt, xót thương: "Có những kẻ nằm cầu gối đất/ Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi...".

Giờ đây chiếc cầu đã thành báu vật thiêng liêng được đời sau nâng niu, gìn giữ. Chiếc cầu là hình ảnh gợi cảm, gợi tình chiếc cầu của "sầu thương": "Qua đình ngả nón trông đình/ Đình bao nhiêu ngói, dạ em thương mình bấy nhiêu", "Qua cầu ngả nón trông cầu/ Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu". Chiếc cầu còn vun đắp thêm tình yêu cho đời sau như lời nhắn nhủ rằng dẫu mai đây có nên nỗi gì thì hãy đừng quên thuở hàn vi mà chối bỏ cội nguồn. Bởi thế trên đất nước mình cũng đã có người tự ý xây nên chiếc cầu cho người nghèo, cho trẻ nhỏ an toàn qua sông học chữ. Công đức thật đáng ca ngợi biết bao.

Chiếc cầu cùng với câu ca đã làm rạng danh một vùng quê hiền hoà Thanh Thuỷ, Thuỷ Thanh. Người xây nên chiếc cầu... lãng mạn, thương người, thương đời lắm. Chiếc cầu thành nơi minh chứng cho lòng tri ân, nơi kỳ ngộ cho bao mối lương duyên, thành lời hò hẹn về với phiên chợ quê, lễ hội, lễ tết... Câu ca không chỉ là lời ướm tình, ghẹo trêu... mà còn ấp ủ nỗi nhớ niềm thương khiến đường đi, tình quê, tình người tha thiết, gần gũi hơn khiến lòng người sôi nổi rộn ràng làm hiện thực hơn ước mong trên chặng đời lỡ bước được về tới Cầu Ngói Thanh Toàn, khao khát "trú chân" cái lẻ loi, đơn côi của mình trong biển tình mênh mông của làng xóm. Xin được kết thúc bài viết bằng những dòng tâm tình dài thêm câu ca, nhủ lòng thương hoài câu hát ru tình tứ:

"Ai về Cầu Ngói Thanh Toàn

Cho em về với một đoàn cho vui

Dù mai quảy gánh ly bôi

Mặc lòng ai đó bạc vôi với tình

Ra đi mới thấy thương mình

Đắng cay càng tỏ lòng trinh vàng mười

Ai đi mô rứa đông người

Bởi em lỡ chuyến đò thôi...phải chờ

Cũng đành lỗi với người xưa

Nhờ câu hát cũ tạ từ ân sâu..."

 

V. P

http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=2688

 

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG... MỘT DI SẢN TINH THẦN VÔ GIÁ

VAN%20HOA%20CONG%20CHIENG2

 

Cũng như Nhã nhạc cung đình Huế, không gian Văn hóa cồng chiêng (VHCC) Tây Nguyên, đã được Tổ chức Giáo dục Khoa hoc và Văn hoá Liên Hiệp Quốc UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại! Tự hào, nhớ ơn tổ tiên xưa! Đây là cơ hội để cộng đồng chúng ta cùng nhau gìn giữ, phát huy tài sản văn hoá vô giá của các dân tộc anh em ra đời và tồn tại hàng ngàn năm qua, xứng đáng trước tôn vinh của nhân loại.

Người dân Tây Nguyên luôn mang trong mình niềm tự hào về một tổ tiên xưa không những đã sản sinh ra những người con khỏe mạnh, bền bỉ chịu đựng thử thách trước thiên nhiên núi rừng huyền bí, khắc nghiệt mà còn gồm nhiều thế hệ ưu tú, trên chặng đường mưu sinh, họ không ngừng nâng cao đời sống vật chất, làm đa dạng, giàu có đời sống tâm hồn...

Từ bao đời nay đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn tự hào nền văn hoá truyền thống lâu đời mang bản sắc rất riêng của một dân tộc có phong tục, tập quán gắn liền với một đời sống khá đặc biệt của cộng đồng mình. Không gian núi rừng bao la và hùng vĩ là môi trường không chỉ giúp họ nương tựa mà còn là thế giới siêu nhiên mang đầy bí ẩn, thế giới của đấng thần linh rất gần gũi với con người và cũng là nơi luôn thổi vào tâm hồn họ sức sống mãnh liệt, lãng mạn lạ thường…  Cũng từ đó không gian VHCC đã được sản sinh.

Bản thân người Tây Nguyên rất yêu quí cồng chiêng. Tổ tiên của họ vốn coi cồng chiêng là báu vật. Cồng chiêng tồn tại, hiện diện trong cuộc sống bình dị thường nhật của họ với vai trò như một nhân chứng lịch sử cho bao cuộc chuyển giao thiêng liêng của tổ tiên nhiều thế hệ trong đó có gia sản văn hoá vô giá: VHCC. Người Tây Nguyên thể hiện tình cảm qua sự giao tiếp trong cộng đồng, giữa họ với thần linh. Theo họ giao lưu gửi trao tâm tư của mình không chỉ trực tiếp bằng lời nói mà thanh âm của cồng chiêng là một thứ ngôn ngữ trữ tình mang hơi thở của một cộng đồng, nhiều thế hệ... giao tiếp cùng thế giới siêu nhiên thổ lộ tình cảm thương yêu, oán hận, lòng ngưỡng mộ nhưng chứa đựng đầy ắp khát vọng muốn chinh phục thiên nhiên…!

 VAN%20HOA%20CONG%20CHIENG

Do vậy người Tây Nguyên thường quan niệm thanh âm cồng chiêng luôn gắn bó, theo suốt một đời của mỗi con người từ khi còn trong bụng mẹ, thời thơ ấu, đến trưởng thành cho đến khi trở về với tổ tiên, cội nguồn.. Cồng chiêng luôn hiện hữu như để sẻ chia cho từng thành viên, cho cả cộng đồng bao nỗi niềm, khát vọng thường nhật, do vậy buôn làng khi có đứa trẻ vừa mở mắt chào đời, già làng tìm đến với chiếc cồng cổ xưa nhất, bên trẻ dóng lên tiếng cồng, hàm ý báo hiệu với mọi đấng thần linh, với mọi người rằng dòng tộc, bộ tộc họ đã có thêm một thành viên mới, nay mai sẽ là chủ nhân, gánh vác mọi việc của buôn làng…. Đất trời vào thời khắc này đang ngân lên thanh âm cồng chiêng thiêng liêng trước một tin mừng. Còn đối với đứa trẻ tiếng cồng là lời mừng mở đầu một giao ước của sự đón nhận, âm thanh cồng chiêng suốt đời sẽ theo cùng đứa trẻ... Từ nét văn hoá này cho thấy VHCC là văn hoá truyền thống giàu tính nhân văn của cộng đồng cư dân các dân tộc Tây Nguyên.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá, văn hoá dân gian khẳng định VHCC Tây Nguyên xuất hiện khá sớm được phát triển từ nền văn hoá Đông Sơn, ra đời cách thời đại chúng ta khoảng 3.000 năm. VHCC là loại hình nghệ thuật gắn liền với sự hình thành và phát triển lịch sử văn hoá của các dân tộc thiểu số sống dọc theo dãy núi Trường Sơn-Tây Nguyên. Nhạc cụ được chế tác bằng đồng này có nhiều kích cỡ, cồng chiêng có thể được diễn tấu đơn lẻ hoặc dàn bộ. Cồng chiêng được gõ bằng dùi hoặc bằng tay. Nguyên thuỷ, dòng họ nào cũng có cồng chiêng. Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để diễn tấu những bản nhạc của riêng dân tộc mình.

Qua bao thời gian, qua bao biến cố, VHCC được dày công xây dựng, sáng tạo của tổ tiên, của nhiều thế hệ ông cha… nghệ thuật của cồng chiêng Tây Nguyên đã đạt đến đỉnh cao. Tổ chức Giáo dục khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc UNESCO đánh giá rất cao giá trị văn hoá, đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Ngày 25.11.2005, công nhận không gian VHCC là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần phải nâng niu giữ gìn, không làm mai một, biến dạng. Festival cồng chiêng Tây Nguyên 2007 đã tạo được không gian cồng chiêng gồm các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng… đặc biệt những địa điểm tổ chức lễ hội như nhà dài, nhà rông, bến nước, nhà mồ, các khu rừng nguyên sơ... khuyến khích, động viên niềm tự hào dân tộc giá trị đích thực của VHCC Tây Nguyên phải gắn liền với cộng đồng và cuộc sống của các dân tộc thiểu số.

Nghệ thuật cồng chiêng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên thể hiện giá trị đỉnh cao ở chỗ nỗi niềm hoài cổ của cả cộng đồng đồng bào các dân tộc gắn chặt cuộc đời mình với núi rừng như cá với nước. Từ cảnh sinh hoạt, nhảy múa quanh đốm lửa bập bùng cháy trong đêm giữa rừng thiêng đến những lễ nghi, lễ hội, phong tục. Cồng chiêng làm cho hơi thở nhịp sống của họ càng thêm bền bỉ, ngàn năm qua không ngừng vươn cao đôi cánh khát vọng giữa không gian mênh mông núi rừng Tây Nguyên giàu chất sử thi, huyền thoại, lãng mạn.

 

V.P

http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=2687

 

  

  DSC00257

 Nhà thơ Trần Vàng Sao & Võ Phước

(KS Duy Tân, Huế 21. 1. 2010)

(Trang nhà thơ Trần Vàng Sao: http://voque.org/index.php?option=com_content&task=view&id=353&Itemid=47

TẢN MẠN VỚI ĐAK NÔNG: CHUYẾN HÀNH TRÌNH XANH

DAC%20NONG%20HANH%20TRINH%20XANHTây Nguyên có núi rừng xanh biếc điệp trùng, bạt ngàn như vô tận. Những con sông, con suối nguyên sơ, hoang dại tạo vóc dáng cho con thác ngày đêm không ngừng vỗ về, ôm ấp ghềnh đá, vách núi... hình thành thêm muôn mạch máu nuôi cơ thể đại ngàn tốt tươi xanh. Tây Nguyên không chỉ chở che, nuôi dưỡng, níu chân người bản địa mà luôn hấp dẫn những đoàn người từ mọi miền đất nước tìm đến nơi đây chiêm phục, khám phá vùng đất lắm điều kỳ diệu. Về đây nghe tiếng chim hót, tiếng gọi bầy của muông thú, tiếng suối reo, nước chảy... khung trời gió thổi, mây bay. Giữa thiên nhiên, bên ngọn lửa bập bùng lắng nghe bao chuyện tình huyền hoặc, lãng mạn, từng tiếng, từng lời thấm đẫm nước mắt nhưng không làm nhòa lòng người Tây Nguyên bởi cái bi thương, ngang trái trong câu chuyện tình buồn ấy đã vực cả cộng đồng vươn dậy nhóm lên ngọn lửa hùng tráng giàu tính nhân văn.

 

Tỉnh Đăk Nông được thành lập từ năm 2004, nơi có thị xã Gia Nghĩa nhỏ nhắn, đường đi ngoằn ngoèo, xuôi chiều, ngược dốc. Dân số toàn tỉnh gần 500 ngàn người, gồm các dân tộc người Kinh, Ê Đê, M' Nông, Tày, Nùng... Vùng đất mênh mông, bí ân này vốn có nền nền văn hóa cổ xưa đa dạng mang bản sắc riêng. Nhiều pho sử thi truyền miệng độc đáo. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn lưu giữ công trình nghệ thuật dân gian, các loại nhac cụ dân tộc từ lâu đời là đàn, cồng chiêng. Bộ chiêng đá có niên đại hàng nghìn năm... So với các tỉnh khác, Đăk Nông còn quá non trẻ. Tuy nhiên vẫn là vùng đất được thiên nhiên đem lòng ưu ái, mưa thuận gió hòa.

DAC%20NONG%20HANH%20TRINH%20XANH%200138
Tên sông Sêrêpok, Krông Ana của Đăk Nông biểu trưng cho dáng vẻ hùng vĩ, tạo nên nhiều quần thể thác nước. Nâm Nung, Tà Đùng là những cánh rừng nguyên sinh, tài nguyên quý giá của quốc gia được bảo tồn nghiêm ngặt. Du khách sẽ không khỏi bàng hoàng, ngất ngây trước vẻ đẹp của đất trời ngay từ khi vừa đặt chân đến. Con sông nào cũng vậy, dòng nước đi qua để lại thác ghềnh. Có sông đoạn nước cứ thủng thỉnh, lặng lờ, có nơi lại cuồn cuộn thét gầm như giận hơn, đùa bỡn! Nước đang trôi trong bình yên bỗng bất thần cùng nhau rơi xuống vực sâu của đá... Bên vách đá dựng đứng lớp lang như muốn chia cắt bầu trời, nước từ độ cao hàng chục thước vỡ ra từng giọt, từng mảng, từng xâu chuỗi trắng xóa, chúng va đập, rồi lại quấn quít vào nhau. Nước và nước gặp nhau trong hoan hỷ, trách móc, và buông ra những lời mừng đoàn viên, khóc cười vì kẻ đi người ở! Không gian bao phủ bởi bọt nước như bức rèm pha lê tuyệt diệu, ngày đêm vang lên thanh âm trong trẻo kỳ lạ làm lay động cả một khoảng trời xui gió từng cơn đang rong chơi từ đâu đó ùa về hòa nhập. Thế giới của thần thoại hiện về, đầy mênh mông sương khói, tâm hồn lâng lâng, sạch làu hai tiếng phàm trần.

Cách thị xã Gia Nghĩa chưa đầy 100 km, theo hướng đi thành phố Buôn Ma Thuột, nằm trên địa bàn huyện Krông Nô. Giữa cánh rừng thâm u, bạt ngàn, nơi đây tổ tiên xưa dân bản địa, đồng bào dân tộc thiểu số đã từng đến chiêm ngưỡng, giao ước thề nguyền với đất trời, với siêu nhiên khoác áo thần linh. Thác D'ray Sáp hay Thác Khói, hiện hữu giữa rừng già làm tâm điểm của hội ngộ. Tên thác D'ray Sáp bắt nguồn từ câu chuyện tình bất hủ của người dân Tây Nguyên. Ngày ấy người ta không nhớ mùa con trăng nào, chỉ biết đích thực có người con gái Êđê đương độ tuổi trăng tròn, sắc đẹp tuyệt vời tên là H'Mi. Ngày ngày H'Mi cùng với một chàng trai chăm lo nương rẫy. Một ngày nọ, đột nhiên xuất hiện trước mắt họ là con vật khổng lồ, thân mình kỳ dị bao phủ bằng lớp vảy dày khỏe mạnh bay lượn dưới ánh mặt trời, đôi râu dài bên hai chiếc răng nhọn hoắt. Con vật quẩy mình khiến trời bỗng dưng tối sầm lại, gió ầm ào nổi lên, cây cối quanh vùng bị cơn lốc dữ làm gãy đổ, cuốn phăng. Con vật khổng lồ kia lao đầu xuống đất, xòe đôi cánh phun nước làm mưa dữ dội rồi biến mất. Không tin vào mắt mình, H'Mi hoảng loạn ngã xuống trong sợ hãi... thân thể nàng tan vào khói mây dần dần biến thành đám khói nước. Riêng chàng trai thì biến thành một thân cây cổ thụ sừng sững trên ghềnh đá. Đám khói nước thời ấy đến giờ vẫn còn, điều đáng nói là bao giờ cũng quấn quít lấy cây cổ thụ. Đám khói nước đó chính là linh hồn của H'Mi. Mặc dù họ không còn hình hài là xương là thịt nhưng muôn đời họ vẫn mãi bên nhau. Câu chuyện tình giàu sức tưởng tượng này không chỉ có ý nghĩa lý giải hiện tượng mưa gió của thiên nhiên của người cổ xưa mà còn khắc ghi lý lẽ của con tim: Tình yêu là muôn đời, là bất tử!

DAC%20NONG%20HANH%20TRINH%20XANH%200137
Thác Drây Nur (Thác Cái hoặc Thác Vợ) được tạo nên bởi sông Krông Ana (Sông Cái). Thác này cách thác D'ray Sáp bởi chiếc cầu treo bắc qua sông Sêrêpok. Thác Drây Nur có độ cao 30m, nước đổ xuống vực sâu tạo nên bức tranh thiên nhiên lung linh vẻ huyền bí và man dại. Âm thanh Thác Drây Nur hung dữ, gâm réo tạo cho mình phong thái, thần sắc riêng. Tên thác gắn liền với câu chuyện tình lâm ly, thấm đẫm nước mắt. Thuở ấy có một chàng trai buôn Kuốp đem lòng yêu thương một cô gái bên kia dòng sông Sêrêpok . Hai người yêu nhau đã từ lâu nhưng cha mẹ đôi bên không hề hay biết. Đến khi hiểu ra sự việc thì tình cảm của đôi trai gái này gắn chặt keo sơn, không thể sống chia lìa nhau. Khổ một nỗi họ là con của hai dòng tộc xưa nay vì hiềm khích nên không chấp nhận cuộc tình này. Vận dụng mọi cách để bảo vệ tình yêu dài lâu của mình nhưng đôi lứa chỉ vô vọng. Vào một đêm trăng, cả hai cùng gieo mình xuống sông Sêrêpok để trọn đời bên nhau. Sau trận mưa bão dậy trời suốt đêm ròng, sáng hôm người ta thấy con sông chia thành hai nhánh, ngăn cách đuờng đi của 2 dòng tộc. Kể từ đó hình thành nên dòng sông đực và sông cái, mang trên mình hai con thác D'ray Sáp, Drây Nur... Biểu trưng cho mối tình muôn thuở của đôi uyên ương.

VỀ ĐĂK NÔNG ĐI EM!

Về Đăk Nông đi em

Nơi trăng gió muôn đời không tuổi!

Bao người đã xa mà không xa nổi

Có kẻ dạo chơi sông suối

Đường thơm lạc gió rừng đêm!

 

Đêm Đăk Nông bình yên

Rừng chớm mùa thương rất lạ

Trăng rơi mảng khẽ khàng trên lá

Mơ hồ lời ru ngàn thiêng

 

Này mùa xuân mà em

Rừng thưa độ này thay lá?

Nghe chăng

Trong mỗi chồi non

Thì thầm giấc lạ

 

Đâu đây lời cồng chiêng

Như gió như mưa

Tình đang giục giã

Người ơi

Đừng thay lòng đổi dạ

Mau về với làng buôn!

Cũng trên dòng sông Sêrêpok, thác Trinh Nữ lại nằm về phía thượng nguồn sông Krông Nô, khác với những con thác khác, thác Trinh Nữ không mang vóc dáng hiên ngang, kỳ vĩ... mà thác trải dài theo dòng nước chảy xiết. Nước bị tức tối, mắc nghẽn bởi lô nhô, gập ghềnh của vô số đá tảng vắt vẻo lên nhau, hình thù kỳ lạ. Thác Trinh Nữ mang dáng vẻ người con gái nết na, kín đáo. Nơi đây một thế giới thật yên bình và phẳng lặng gói trọn tâm sự buôn mênh mang. Tên thác kể lại một câu chuyện tình yêu éo le của một người con gái vì tình duyên không thành đã tìm cái chết nơi này.

Thuộc địa phận huyện Tuy Ðức, cách trung tâm thị xã Gia Nghia 60 km, thác Ðắk G'Lun như cô con gái ẩn mình trong rừng thẳm. Trên độ cao hon 50m, nước buông dòng trắng xóa, sau đó tách ra hai mảnh như hai dải lụa trắng xóa lững lờ theo nhịp gió. Ðến với Ðắk G'Lun tâm hồn con người ngất ngây trước cảnh đẹp tráng lệ nhưng hoang sơ. Ngoài ra Đăk Nông còn nhiều con thác khác như Thác Ba Tầng (thác Nghĩa Tín), cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa khoảng 7 km nằm cạnh đường quốc lộ 14, theo hướng về thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm của thác này là một quần thể.. . thác nối tiếp thác bởi trước khi nước từ trên cao đổ xuống phải chảy qua ba tầng đá. Thác Liêng Nung cách thị xã Gia Nghĩa 12 km theo đường quốc lộ 28 hướng đi tỉnh Lâm Đồng. Nước từ trên độ cao đổ xuống tạo nên những dải lụa mềm mại thướt tha. Ngay dưới chân thác là một hang động nơi cư trú của loài dơi. Đường vào thác Liêng Nung hiểm trở, thăm thẳm gây cảm giác mạnh cho người đến tham quan...

Đến nay Đăk Nông đã và đang phát hiện ra nhiêu con thác lớn, nhỏ chưa mang cho mình cái tên, chưa lồng vào đó câu chuyện kể. Hãy đến với Đăk Nông để hòa vào cộng đồng các dân tộc anh em đang chung lòng, chung sức xây dựng mái nhà Đăk Nông giàu có, đằm thắm nghĩa tình. Du khách hài lòng hơn sau những chuyến hành trình xanh.

Võ Phước

http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=9&ID=2685