Print

XÔI CHUÔNG tản văn Võ Quê, NXB Văn Học 2013

Published Date
Written by Võ Quê
Hits: 3435

 

 HUẾ, DA DIẾT CÁI TÌNH CHI Ở TAM KỲ

         Nhân dịp tham dự kỷ niệm 40 năm Tổng đoàn Học sinh Đà Nẵng (1971-2011), tôi được gặp các anh chị em Tổng đoàn Học sinh Quảng Tín (tên gọi trước năm 1975) và theo chân họ vào Tam Kỳ, nơi các anh chị ấy đã từng hoạt động đấu tranh, xuống đường đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược, đòi hòa bình, thống nhất đất nước của một thời kiên cường oanh liệt. Những ngày ở Tam Kỳ, nhờ các cuộc gặp gỡ với anh chị em trong Tổng đoàn Học sinh Quảng Tín mà tôi có dịp quen biết ông Nguyễn Đình Thông, Trưởng ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Sinh năm 1930, quê quán ở Dạ Lê (gót), huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Ông có mười người con (năm trai, năm gái) và qua sự chăm lo nuôi dưỡng của vợ chồng ông, ai cũng thành đạt, có sự nghiệp xứng danh với nếp nhà. Nay dù đã trên tám mươi tuổi nhưng ông Thông vẫn còn quắc thước, rắn rỏi, khỏe mạnh. Dù xa quê đã lâu năm nhưng chất giọng Huế của ông vẫn còn nguyên vẹn, hoàn toàn không hề bị pha ngữ điệu, âm tiết. Nhờ hầu hết con cái ổn định, vinh hiển mà ông thảnh thơi, tự tại. Ông đã tập trung trí tuệ, tâm huyết của mình vào việc điều hành Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế ở Tam Kỳ, Quảng Nam được thành lập từ năm 1996 cho đến nay vừa tròn mười lăm năm. Uy tín cá nhân ông và gia đình ông đã được lan tỏa, nhờ vậy bà con đồng hương Huế tin tưởng ủng hộ ông. Qua cuộc hàn huyên với ông Nguyễn Đình Thông, anh Trần Đình Hộ - một thành viên tích cực trong Tổng đoàn Học sinh ngày trước và nay lại tiếp tục năng động, sôi nổi trong cộng đồng bà con Thừa Thiên Huế - tôi đã tìm hiểu được hoạt động đồng hương của bà con Thừa Thiên Huế trên thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam.

 

Khác với các tổ chức đồng hương Thừa Thiên Huế ở các tỉnh thành khác trong cả nước, mỗi năm chỉ tổ chức gặp nhau một lần vào dịp đầu xuân, Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế ở Tam Kỳ, Quảng Nam lại thực hiện hai lần hội ngộ:

 

Lần thứ nhất là cuộc gặp gỡ vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch hằng năm với sự tham dự độ trên dưới 300 người trong tổng số 600 người Thừa Thiên Huế đang làm ăn sinh sống ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Nội dung cuộc họp mặt đầu xuân rất phong phú, đa dạng với nhiều hình thức sinh động. Cùng với sự thăm hỏi nhau, chúc mừng năm mới; thông báo tình hình, tin tức trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa của bà con ở Tam Kỳ và ở quê nhà… là việc quan tâm trợ giúp cho các hộ gia đình đồng hương đang có những hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn; chú trọng vận động nguồn kinh phí khuyến học để giúp con em đồng hương học tập tốt. Riêng phần văn nghệ góp vui trong cuộc họp mặt đầu xuân, ban tổ chức luôn nỗ lực để đưa thật nhiều tiết mục dân ca, ca Huế lên sân khấu. Chính loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống này đã từng gắn bó máu thịt với đông đảo bà con đồng hương khi đang còn ở quê nhà, cho nên khi phải tha phương, xa xứ, bà con càng mong muốn được nghe lại những giai điệu da diết, mượt mà, thắm đượm tình tự dân tộc từ âm hưởng dân ca, ca Huế.

 

Cuộc gặp gỡ lần thứ hai là vào dịp kỷ niệm ngày thất thủ kinh đô 23-5 âm lịch. Bà con Thừa Thiên Huế tại đây cho rằng việc ghi nhớ công đức tiền nhân cùng những hy sinh lớn lao của tổ tiên ông bà trong giai đoạn này thật đáng trân trọng. Những tổn thất to lớn trong cơn biến động kinh thành Huế ấy không biết lấy gì bù đắp nổi. Việc gặp nhau trong dịp 23-5 âm lịch bên cạnh chuyện tri ân, tưởng nhớ các chiến sĩ trận vong, thương tiếc các âm hồn bị tên bay đạn lạc trong cuộc chiến còn để thể hiện tinh thần yêu nước, yêu quê hương của người Thừa Thiên Huế đang vì hoàn cảnh mà phải mưu sinh nơi xa xôi. Chính nhờ có tấm lòng luôn hướng về đất mẹ mà người Thừa Thiên Huế nơi đây thường nhắc nhở nhau cố gắng sống tốt, sống đẹp, sống có tình, sống xứng đáng là người con dân Thừa Thiên Huế.

 

          Để hoạt động có hiệu quả, đáp ứng được nguyện vọng tình cảm của nhiều bà con, Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế còn được sự hưởng ứng nhiệt thành của bà con đồng hương Quảng Trị đang định cư ở Tam Kỳ và bà con người Tam Kỳ, Quảng Nam. Nhờ sự phối hợp ăn ý, giàu nghĩa tình, đoàn kết nhất trí cao giữa bà con Thừa Thiên Huế, Quảng Trị mà chất lượng cuộc sống của mọi người được nâng cao. Sự tương thân tương trợ này đã giúp bà con phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, an cư lạc nghiệp, đồng thời góp phần không nhỏ trong việc xây dựng thành phố Tam Kỳ phồn vinh, thịnh vượng.

 

          Qua chuyện kể của anh Trần Đình Hộ, chúng tôi còn được biết đã có rất nhiều thành viên trong Hội đồng hương năng nổ, nhiệt thành ở ngành giáo dục như thầy giáo Nguyễn Quỳnh, thầy Nguyễn Thái, thầy Nhã, thầy Trần Tứ, cô giáo Thu Phúc…; ở mảng y tế có bác sĩ Hối, bác sĩ Lâm Liên, bác sĩ Quang, bác sĩ Thân Trọng Long…; ở lĩnh vực doanh nghiệp có các hiệu kim hoàn Kim Thành, Kim Thạnh, Vĩnh Hòa, Kim Việt, hiệu nem chả Huế Thu Vang…; anh Lương Tuyến, Giám đốc Sở Thủy văn Quảng Nam... Chính họ đã cùng với nhiều bà con đồng hương khác rất tâm huyết huy động nhiều công sức, đóng góp trên nhiều mặt nhằm giúp cho Ban Liên lạc nâng cao chất lượng hoạt động, phù hợp, thích nghi với thời kỳ đổi mới, hội nhập của đất nước.

 

         Bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà con đồng hương cũng là một trong những chủ trương của Ban Liên lạc Đồng hương. Cụ thể, vừa qua, có hai em người làng Kế Môn, Điền Môn, Phong Điền, Thừa Thiên Huế do hoàn cảnh gia đình nghèo khổ, thiếu thốn nên phải rời quê nhà vào Tam Kỳ tìm kiếm việc làm. Chẳng may hai em bị gia đình người chủ khắc nghiệt dùng các thủ đoạn ngược đãi thậm tệ. Biết chuyện, Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế ở Tam Kỳ đã kịp thời yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp, giúp hai em thoát cảnh đọa đày, tìm công việc khác ổn định, an toàn hơn.

 

          Biết tranh thủ các nguồn tài lực để thực hiện nội dung khuyến học, giúp đỡ các gia đình đồng hương có hoàn cảnh khó khăn nên trong thời gian qua Ban Liên lạc cũng đã được sự hỗ trợ thiết thực của Công ty Bia HuDa Huế, Công ty Đà Điểu, doanh nghiệp Đức Thọ trên địa bàn Tam Kỳ. Ban Liên lạc hy vọng trong thời gian tới sẽ tìm cách huy động thêm nhiều nguồn tài trợ khác nhằm phát huy các hiệu quả đạt được.

 

         Riêng tấm lòng hướng về quê hương của bà con Thừa Thiên Huế ở Tam Kỳ mãi mãi là một mạch nguồn lai láng. Bà con hân hoan trước sự kiện Unesco hai lần công nhận Huế là di sản nhân loại. Bà con buồn lo khi nghe tin các di sản văn hóa Huế bị xâm hại, sử dụng sai mục đích… Những cuộc vận động quyên góp ủng hộ đồng bào Thừa Thiên Huế trong những mùa thiên tai, bão lụt hàng năm cũng thể hiện rõ nét, sâu sắc, thành khẩn một niềm thương yêu vô hạn của bà con vọng về quê cha đất tổ.

 

         Từ việc tìm hiểu hoạt động của Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế ở Tam Kỳ, Quảng Nam tôi trực nhận một điều: Con người Thừa Thiên Huế nói chung và Huế nói riêng luôn có một “cái tình chi…” vô cùng da diết mà đằm thắm, lắng sâu. Chính nhờ “cái tình chi…” ấy mà người Huế dù ở bất cứ phương trời nào vẫn giữ được bản sắc riêng trong từng phong cách sống, ăn, mặc, ở, vui chơi, giao tiếp… Tình Huế trong họ mãi mãi hóa thân vào nỗi nhớ, hóa thân vào thiên nhiên, sông núi - Đi mô cũng nhớ quê mình, nhớ Hương Giang nước biếc, nhớ Ngự Bình trăng trong…

 

Huế, 25-6-2011.

 

THƯ GỬI CON TRAI

 

          Con của ba thương yêu!

 

          Đúng như con viết trên blog, ngày nào ba cũng thường đọc những dòng chữ tâm huyết của con về công việc, về bạn bè, về những buồn vui của con từ cuộc sống, từ thành phố Sài Gòn năng động nhưng cũng nhiều phức tạp, nhiêu khê bộn bề ngổn ngang sự kiện... Rồi những ngày gần đây, là đọc được nỗi trăn trở của con, bằng hữu con đang cùng cả nước hướng về Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam mình đang bị gây hấn. Ba tuyệt đối đồng ý với con Trường Sa, Hoàng Sa vĩnh viễn là của Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng, không một ai được quyền chiếm lĩnh. Và sự thật mãi mãi là sự thật. Sự thật vượt lên không gian, vượt lên thời gian.

 

          Con biết không, mấy hôm nay bạn bè ba từ hải ngoại cũng đã email cho ba và đông đảo nhân dân phong trào đô thị Huế trước đây những dòng nhiệt huyết. Đau đớn. Phẫn nộ. Uất nghẹn. Căm hận... Những từ ngữ ấy cũng không lột tả được hết tinh thần, tình cảm bi tráng của ba cũng như của nhiều người trước thực trạng Trường Sa, Hoàng Sa. Ba cũng đồng ý với con về một sự thật, một chân lý: Hoàng Sa -Trường Sa là của Việt Nam! Sẽ có hàng triệu tiếng nói như con làm nên một tiếng sấm rền...". Kinh nghiệm đấu tranh của ông cha ta xưa cũng đã để lại cho các thế hệ tiếp truyền nhiều kinh nghiệm quý báu với hình ảnh kiên cường, bất khuất. Ba tin giá trị những bài học ấy vẫn còn là hình mẫu đẹp, hào hùng nếu ngày nay đất nước mình còn giữ tròn nguyên khí.

 

        Con trai của ba ơi! Như vậy, qua sự kiện Hoàng Sa - Trường Sa, ba và bạn bè ba đang là chiến hữu của con rồi. Con trai của ba đã trưởng thành như điều ba mẹ hằng mong ước. Thuyền con đã vào biển lớn. Hải trình chắc có bão dông... Được sát cánh bên con, bên bạn bè con; được san sẻ và đồng cảm, đồng tình với con trai là một hạnh phúc lớn của gia đình con ạ!

 

         Trước mắt, đường chúng ta đi vẫn còn nhiều thử thách, nhiều chướng ngại lớn mà cha con mình cần phải vượt. Ba tâm đắc với con khi trên đầu trang blog con ghi lời ca khúc "Mang máu anh hùng ta đừng làm nhơ máu anh hùng...". Đan tay nhau, chung lời gọi. Từng trang giấy mở ra, từng phím chữ ngân lên cùng viết lời hiệu triệu khẳng định chủ quyền: Hoàng Sa - Trường Sa của Tổ quốc Việt Nam!

 

        Con trai thương yêu! Ba chúc mừng con đã lớn khôn khi nghĩ về đất nước. Đất nước đang nuôi dưỡng tình yêu lớn trui rèn khí phách. Đất nước đang nâng ta lên từng ngày để ta biết buồn, vui, thương, hận... biết bảo vệ lãnh thổ Việt Nam mình toàn vẹn diệu kỳ "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư...".

 

Huế, 5-6-2011.

 

CONIC, NGÀY VÀ ĐÊM

 

         Ban mai. Một chim sáo sà xuống trước khung cửa nhà Ca Dao ở Conic. Tiếc chưa kịp chụp tấm hình, chim sáo vội bay đi. Khoảnh khắc chim sáo đã cho anh liên tưởng tới em rồi Kiều nợ! Anh nghĩ rằng em hiển linh nương cùng đường bay chim sáo tìm thăm con trai và anh cũng đang từng phút giây vọng tưởng về em.

 

         Ban trưa. Nắng lung linh màu hổ phách. Riêng mình anh nơi đây, anh không thiếu em. Trước mắt anh, hai tấm hình em với hai nụ cười cùng chung nguồn vui rất tinh anh. Một môi cười của thuở em mười sáu. Một hoa cười thời em là hiền thê của anh. Biết ơn em đã cho anh bình tâm trở lại.

 

        Ban đêm. Gió phóng khoáng trong lành giục anh xuống độc hành trên những con đường vắng Conic. Sao anh không có cảm giác độc hành? Bởi: em đang sóng bước bên anh. Bởi: em đã viết trong “Người thân ơi! Bạn bè ơi!” rằng: “Nhớ chi lạ mỗi buổi sáng, buổi tối cùng anh Quê đi bộ tập thể dục trong một không gian thoáng đãng, nhẹ nhàng ở khuôn viên Conic. Anh Quê thường chỉ mấy lô đất trống của người ta có ghi số điện thoại rao bán đất rồi nói đùa y như thật: “Vợ chồng mình bán xong mấy lô đất này rồi ra Huế tha hồ mà ăn tiêu thoải mái” hoặc là: “Mấy người giúp việc nhà mình không chịu làm cỏ chi hết để đất um tùm làm sao mà bán được đây?”…

 

          Sáng nay, thả bộ một vòng quanh Conic: Con đường này hai ta thường ung dung bước ngày và đêm. Chiếc ghế này, anh và em từng bên nhau đếm từng chiếc xe qua chờ Ca Dao về, bàn chuyện đám cưới Sao Khuê - Thu Phương... Hoàng Yến nở vàng trong xuân muộn. Mặt trời đang lên. Hừng đông. Anh hình dung gương mặt em hồng hào ánh dương. Biết ơn em cho anh nguồn hy vọng xanh!

 

         Em đang cùng anh chậm rãi, khoan thai từng bước nhẹ. Anh đang tìm thấy người thương hiền dịu bên anh. Bên anh. Bên anh. Conic ngày và đêm! 

 

                    HỘI NGỘ TRÊN ĐẤT PHƯƠNG NAM  

 

Trong những ngày dự trại sáng tác tại Nhà Sáng tác văn học nghệ thuật Vũng Tàu, ngoài chuyến đi thăm Côn Đảo ba ngày, tôi đã có niềm vui khi lần đầu tiên được đặt chân đến hai địa danh Ngãi Giao, Suối Nghệ thuộc huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

 

        Chiều ngày 26-3-2011, nhà thơ Phạm Bá Nhơn cho xe về Vũng Tàu đón tôi tới thị trấn Ngãi Giao và gặp thêm một số bạn đồng hương Quảng Trị của anh cùng nhà thơ Nguyễn Đại Bường, nhà thơ Lê Huy Mậu, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Bà Rịa – Vũng Tàu. Được biết tại đây, người Quảng Trị vào sinh cơ lập nghiệp rất nhiều. Đã có những người thành đạt, trong đó có nhà thơ Phạm Bá Nhơn. Thật tình cờ, thú vị khi trong cuộc hội ngộ này tôi gặp lại anh Trương Nguyễn – một huynh trưởng Gia đình Phật tử, nay là một nhà thơ – đã cùng cùng tôi dự trại Lộc Uyển tại Quảng Trị vào năm 1967. Tôi thật xấu hổ vì anh nhận ra tôi mà tôi thì không nhận ra anh. Anh Trương Nguyễn còn nhớ và đọc lại những dòng lưu bút của tôi viết trong sổ tay anh ngày ấy. Trên 40 năm rồi mà anh ấy vẫn khắc ghi. Mối tình lam thật tuyệt vời. Đêm ấy, cùng với chén tạc chén thù là chuyện quê nhà đất Quảng; là thơ phú nghĩa tình, là tâm sự chân thành nghiệp duyên văn nghệ… Trước tấm thịnh tình của nhà thơ Phạm Bá Nhơn và của các thân hữu Ngãi Giao, ngẫu hứng tôi đã hát chầu văn bài thơ lục bát Ngày mai trả lại dài 170 câu trong tập thơ Khung trời mây trắng của nhà thơ Phạm Bá Nhơn. Tôi chợt nhớ hai câu lục bát mình đã từng ghi: Đi mô cũng chộ người thân, mới hay trái đất cũng bằng trái tim…  

 

         Sáng ngày 28-3-2011, Chinh Nguyên gọi điện thoại về thông tin: 11 giờ 30 trưa nay Tuyết Nguyên và con sẽ gặp chú ở nhà con Suối Nghệ. Địa chỉ thế này, thế này… Tôi ôm eo một người bạn mới quen ở Vũng Tàu tên là Ngô Tứ Huynh quê ở Hoài Nhơn, Bình Định lên đường tìm Suối Nghệ. Dọc đường, Tứ Huynh tâm sự nhà có bốn con, hai gái hai trai. Trong đó ba người đã lập gia đình, riêng con trai áp út đang học Thạc sĩ ở Úc. Do hoàn cảnh khó khăn nên một mình vô Vũng Tàu mưu sinh. Ban ngày đi xe ôm, ban đêm đạp xích lô. Áo quần, chăn mùng cho vào xích lô, tối ngủ vỉa hè. Thỉnh thoảng gởi tiền về cho vợ đang một mình ngoài quê. Đồng cảm với tâm trạng của Tứ Huynh, dọc đường đi thỉnh thoảng tôi hát vài đoạn bài chòi, vài câu lô tô như muốn nói với anh rằng ta cứ lạc quan cùng cuộc sống. Anh cũng hứng chí hát bài chòi – làn điệu dân ca quen thuộc của quê anh khi cả hai ngồi cà phê ở quán Hoài Cổ - quán cà phê này được Chinh Nguyên xếp vào hạng đẹp nhất ở Suối Nghệ. Chinh Nguyên còn hỏi sao chú biết mà ghé vô Hoài Cổ?

 

         Nhà Chinh Nguyên khang trang xinh xắn một màu trắng tinh khôi. Má Chinh Nguyên phúc hậu, hiền lành và đẹp nữa. Bữa cơm trưa thật ngọt tình. Trong khoảnh khắc này tôi nhớ lại những trang viết của Chinh Nguyên trên blog thời Yahoo. “Lan chi mô? là bài văn đượm nguồn thương yêu về một người cha thân yêu của Chinh Nguyên nay đã không còn trên dương thế. Tôi kính cẩn thắp nhang lên bàn thờ Phật và bàn thờ ba Chinh Nguyên. Tôi hình dung sắc lan, hương lan một thời trong ngôi vườn Suối Nghệ như đang lấp lánh hồi quang. Trong tưởng tượng ban trưa của tôi bóng dáng hai cha con Chinh Nguyên hồn hậu, chăm chút nhành phong lan cũng lung linh sinh động “Lan chi mô?”

 

        Tuyết Nguyên, bạn Chinh Nguyên có người má bán cá khô ở chợ Bà Rịa. Nghe tin Tiểu Kiều – hiền thê của tôi bị bệnh, má Tuyết Nguyên đã chịu thương chịu khó mua mướp đắng về xắt mỏng, phơi khô rồi chuyển lên Sài Gòn để Tuyết Nguyên gởi ra Huế cho Tiểu Kiều bằng đường bưu điện. Nghĩa cử cao đẹp ấy vợ chồng tôi luôn ghi nhớ, hàm ơn. Tiếc là Tiểu Kiều chưa kịp nói lời tri ân với hai mẹ con Tuyết Nguyên thì đã sớm ra đi. Lần này, theo Tuyết Nguyên, Chinh Nguyên, tôi ra chợ Bà Rịa thay mặt Tiểu Kiều thăm và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với má Tuyết Nguyên. Vị đắng của khổ qua đã ngọt lành tình nghĩa. Nụ cười hiền của hai má con Tuyết Nguyên, của hai má con Chinh Nguyên đã đưa tôi về bình yên trong suốt những cung đường.

 

          Rời Vũng Tàu lên Sài Gòn, ngày 31-3-2011 tôi có cuộc hội ngộ với Trần Nhung – một “multiply” ở nhà hàng Wrap & Roll khu Phú Mỹ Hưng. Năm ngoái khi tôi vào Sài Gòn tham gia tiết mục nhỏ cho chương trình truyền hình HTV của một nghệ sĩ Huế, tôi không gặp Nhung được dù Nhung đã có lời mời. Thời gian ở Sài Sòn lúc ấy quá ngắn ngủi, eo hẹp. Buổi họp mặt lần này còn có Trân - người bạn thân thiết của Trần Nhung. Sự thân tình, cảm thông hoàn cảnh sống của gia đình tôi ngoài Huế của Trần Nhung đã giúp tôi không bỡ ngỡ mà lại thấy gần gũi trong lần đầu biết mặt nhau. Khoảng cách giữa hai thế hệ trẻ, già cũng hẹp bớt đi. Chỉ còn lại trong nhau niềm ưu ái, trang trọng. Những đài hoa thủy tiên Trần Nhung tặng tôi trong trưa ngời lên sự tin cậy tinh khôi, mãi mãi... Điều bất ngờ, thú vị trong cuộc gặp gỡ này là Trân.Qua trò chuyện, hàn huyên tôi mới biết Trân là ái nữ của một người bạn rất thân từ trước năm 1975: bác sĩ Nguyễn Trận. Câu lục bát cũ lại hiện ra, lần này đậm nét hơn: “Đi mô cũng chộ người thân, mới hay trái đất chỉ bằng trái tim”.  

 

        Từ những trang “multiply”, tôi được quen thêm họa sĩ Ngô Đồng. Thời gian qua, dù chưa diện kiến nhau nhưng trong thẳm sâu tôi hiểu giữa anh và tôi có một mối đồng cảm, đồng điệu chân tình. Chưa được có dịp xem tranh của anh nhưng những vần thơ anh viết trên multiply mà tôi từng đọc và những comment của bạn bè anh gởi đến anh đã tạo trong tôi một mối thiện cảm sâu đậm với anh. Chiều 30-3-2011 tôi vui mừng, xúc động thật sự khi anh có mặt tại Trung tâm Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh  dự buổi nói chuyện chuyên đề của tôi “Ca Huế - Tiếng nhạc tri âm”. Thời điểm này, tôi chưa kịp trò chuyện cùng anh nhưng dung mạo anh cũng kịp để lại cho tôi một ấn tượng đẹp. Tôi hiểu họa sĩ Ngô Đồng là một người khinh khoái!

 

         Trưa ngày 2-4-2011 họa sĩ Ngô Đồng hẹn gặp tôi ở nhà hàng Quê Nhà gần công viên hồ con rùa. Trước đó anh đã nhắn tin cho biết ngoài anh ra còn có thêm những người bạn multiply. Và thế là lần lượt tôi được gặp một Hiền Minh đẹp trai, kể chuyện sôi nổi, có duyên với tài ứng tác thơ nhanh; một Kiệt (mrolman) trẻ trung, thích nhạc Trịnh, một Tiểu Thúy hiền lành, sâu sắc, một Ngọc nhỏ nhắn, hồn nhiên… rồi Hoa Quỳnh, Loan Dinh, Lưu Lệ Thanh… dung nhan đẹp xinh mỗi người một vẻ. Hiền Minh đã nhắc tôi về một bài thơ viết chung của ba người dạo trước. Hai câu đầu của tôi, hai câu tiếp theo là An Thảo (Hà Nội), hai câu cuối cùng của Hiền Minh. Tôi phục Hiền Minh có trí nhớ tốt khi anh chép lại cho tôi nguyên văn bài thơ ấy: 

 

Tiếng chuông gọi rác ban chiều

 

Một ngày qua biết bao nhiêu hồng trần

 

Sáng nâng niu những ân cần

 

Chiều buông xuống lại tần ngần phôi pha

 

Vui buồn một thoáng rồi xa

 

Đêm về lặng lẽ ru ta bềnh bồng…

 

        Thưởng thức hương vị “Quê nhà” xong, mọi người lại tiếp tục sang một nhà hàng kem bên cạnh. Những câu chuyện kể giòn lên trong chiều về nhân tình thế thái, về chuyện tử vi mà họa sĩ Ngô Đồng là chứng nhân của rất nhiều nội dung thú vị. Tình bạn multiply Sài Gòn của các bạn thật dễ thương. Tôi như được hội nhập vào đây cùng các bạn. Tôi quên tôi là khách. Tôi hứng chí chạy hai câu trên multiply khi trở về chung cư Conic:

 

Multi – Quê nhà liên hoan

 

Thanh Minh Kiệt Ngọc Đồng Loan Thúy Quỳnh!

 

         Tôi gọi tên từng người thân quý. Và tiếng gọi của tôi đã có Hiền Minh đáp lời bằng một bài tứ tuyệt:

 

Thanh, Minh, Kiệt, Ngọc, Đồng, Loan

 

Thúy, Quỳnh, Quê Võ liên hoan một ngày

 

“Quê nhà”… bia lẩu ngất ngây

 

Cà phê, kem, bánh thế này, khó quên!

 

         Thật khó quên! Thật khó quên!

 

          Người và Đất phương Nam…

 

Huế, 3 - 4 – 2011

 

EM VỀ TRONG GIẤC MƠ ANH

 

          Từ ngày em rời anh, xa hai con, nhà mình luôn dìu dịu thơm làn hương trầm trìu ái. Em với nụ cười hé mở khoan dung; ánh mắt trong, hiền thục tặng anh sự bình yên mỗi ngày. Em tạo cho anh cảm giác mình không còn đơn độc, không ưu phiền bởi thiếu vắng một hình hài xinh đẹp, duyên dáng có thật trước đây. Đôi lúc vài người bất chợt hỏi anh có đêm nào anh mơ thấy em về chưa?

 

          Mơ thấy em về bên anh? Ồ! Có chứ! Những giấc mơ tuyệt vời có dáng Kiều xuân đã nhiều lần tìm đến. Nhẹ nhàng. Lắng sâu. Đằm thắm…

 

         Thường giấc mơ tới người ta khó nhớ, dễ quên mau. Nhưng với giấc mơ em, anh nhìn rõ, nhớ lâu như hai giấc mơ anh sẽ kể em nghe: một ở Huế, một ở Vũng Tàu.

 

         Giấc mơ ở Huế: Anh mơ thấy được em mời anh đi về đường Phó Đức Chính thưởng thức bánh khoái, bánh bèo quán Hạnh. Phải chăng vì anh hay liên tưởng trước đây em và anh thường có những ngày la cà, lang thang quán xá đặc sản Huế ở mặt tiền, trong hẻm, nơi gần, chốn xa, làng quê, phố thị... Hai vợ chồng mình vừa thích thú nhâm nhi, vừa tìm hiểu các ngọn nguồn, xuất xứ những thứ nguyên liệu, tận tình hỏi han rạch ròi các chị, các o đứng bếp cách chế biến, nêm nấu các món ăn Huế, cộng với “trình độ” công, dung, ngôn, hạnh của em mà cho ra đời cuốn sách “Huế ăn hương mặc hoa” trong dịp Festival Huế 2004. Năm nay, thành phố Huế sẽ Festival Huế 2011 chủ đề “Bếp Việt trong vườn Huế”, tiếc là không có em để tiếp tục một “Huế ăn hương mặc hoa”… Giấc mơ ăn uống! Ôi chao là vui cái khoảnh khắc hiếm hoi đêm! Rồi em tan đi trong ngơ ngác, bồi hồi, ngẩn ngơ tiếc nuối của anh.

 

         Tỉnh giấc, anh tần ngần lật từng trang “Huế ăn hương mặc hoa”… của em, anh chỉ mong tìm lại chút dư hương ngày cũ để được yêu thương, được nhớ nhung em.

 

          Giấc mơ ở Vũng Tàu: Đêm rằm tháng 2 âm lịch (19- 3 - 2011), cả thế giới theo dõi hiện tượng “siêu mặt trăng”. Trăng biển Vũng Tàu sáng trưng, to tròn viên mãn… Trăng gợi nhớ em đến nao lòng. Nhất là anh nhớ ngôi nhà mới của em từ phương ấy xa xôi. Buổi chiều trước bách nhật em một ngày, anh và con trai trưởng đã lên thăm ngôi nhà ấy - tiếc là Sao Khuê, Thu Phương đang nơi xa xôi… Anh vội vàng chụp một tấm hình có vài bông hoa mua nở tím trước nhà em. Em vốn yêu màu tím. Hoa sim thì chưa đến mùa. Hai cha con bên nhau lặng lẽ không nói trước gương em mặt phúc hậu, nhưng anh hiểu con trai và anh đều tự mình thầm thì kể em nghe biết bao là câu chuyện ngày qua…

 

         Và rồi, trăng theo anh vào giấc ngủ, em cũng theo anh bay trong cơn mơ. Em cầm tay anh đến một sạp báo ở vỉa hè trung tâm thành phố Vũng Tàu. Bất ngờ, em dúi nhanh vào tay anh một tờ báo thời trang. Anh không kịp đọc tên tạp chí này nhưng anh hiểu đó là chuyên san thời trang. Không phải tình cờ mà anh có những khuôn hình hoa mộng này. Anh nhớ thuở ấy, em và anh thỉnh thoảng cũng có nói chuyện về thời trang. Anh bảo em đừng chạy theo thời trang mà dễ đụng hàng, mất nét độc đáo của người nữ. Anh còn cụ thể hơn khi ví dụ tiền một chiếc áo, quần thời trang có khi bằng hai ba chiếc áo, quần tự mình chọn vải, chọn dáng, kiểu để may. Sao mình không tự may cho được nhiều áo, quần với nhiều kiểu, dáng, vừa có nét đẹp riêng, vừa không giống ai trong đám đông đồng phục trên đường. Em không cười chê anh cổ hủ, bảo thủ, lạc hậu… vì không biết chi về mặt tích cực của thời trang, mà em lại làm theo ý anh. Bây giờ, mỗi lần nhìn vào tủ áo của em, anh chợt rưng rưng…

 

         Em về trong giấc mơ anh. Một Huế. Một Vũng Tàu.

 

         Và biết đâu, đêm nay trên chuyến hải trình ra Côn Đảo lần thứ 5, em lại cùng anh lênh đênh. Biển trời bao la. Trăng vàng nghịch sóng. Giấc mơ diệu kỳ hiện lên trong hạnh phúc anh. Và em nụ cười hiền, mắt em ngời sao… 

 

                    Nhà Sáng tác Văn học Nghệ thuật Vũng Tàu

 

21 - 3 - 2011

 

GIỮA LÒNG DÂN

 

         Được sự giới thiệu của Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế cùng với sự tín nhiệm của bà con ở địa bàn dân cư nơi tôi đang trú ngụ, tôi đã ra ứng cử Hội đồng Nhân dân và đã trúng cử 5 nhiệm kỳ: 2 nhiệm kỳ là đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Huế (6 năm) và 3 nhiệm kỳ là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh (17 năm). Đây là vinh dự lớn cho bản thân tôi và giới văn nghệ sĩ tỉnh nhà.

 

          Qua 5 lần bầu cử, được người dân bỏ những lá phiếu tin cậy và thương yêu cho văn nghệ sĩ, tôi mới hiểu một cách sâu sắc rằng người dân quê tôi luôn trân trọng các loại hình văn học nghệ thuật, họ mong muốn những người hoạt động trên lĩnh vực này cũng phải có mặt trong Hội đồng nhân dân với một tinh thần trách nhiệm công dân cao, đầy nhiệt huyết vì lợi ích thiết thực của cộng đồng mà phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của cử tri.

 

          Nhìn lại quá trình làm một đại biểu hội đồng nhân dân tôi tự thấy mình cũng đã có cố gắng trong việc tìm hiểu, lắng nghe nhiều ý kiến buồn vui, những ước mơ, khát vọng của người dân trên nhiều mặt khác nhau, trong đó tập trung lưu ý các hoạt động về văn hóa, văn học nghệ thuật là nghiệp vụ chuyên biệt mà tôi đang công tác, đang gắn bó. Việc cử tri quan tâm từng bước phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật ở một miền đất có hai di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được thế giới công nhận là rất cần thiết nhằm góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực, những định hình mới, những thành tựu lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội của quê hương.

 

Bên cạnh những lần tiếp xúc cử tri định kỳ trước và sau kỳ họp tại các xã, phường, ngôi nhà nằm trong kiệt sâu của tôi đã nhiều lần được đón nhiều cử tri đến để trao đổi, mạn đàm những vấn đề mà họ đang quan tâm như chuyện các dự án, quy hoạch treo, các dự án thực hiện chậm tiến độ làm ảnh hưởng đến chuyện mưu sinh của người dân; hoặc đề nghị tôi kịp thời phản ánh đến các cơ quan chức năng những vấn đề cụ thể, thiết thân đến quyền lợi chính đáng của họ. Trong các lần gặp gỡ cử tri tại nhà này thỉnh thoảng tôi còn chăm chú lắng nghe cử tri đọc những bài thơ tâm tâm đắc được sáng tác bằng chính cuộc sống, hơi thở của cử tri. Cùng với nội dung đề cao đất nước, quê hương Thừa Thiên Huế đang từng ngày đổi mới với nhiều thành tựu trong kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… là sự lên án các hiện tượng tiêu cực trong xã hội như nạn tham nhũng, nạn học giả bằng thật: Hợm hĩnh mà chi học vị hư/ Bằng mua hàm chạy có gì cừ/ Tô vẽ, to ve ông “tiến sĩ”/ Trịnh trọng, huênh hoang cụ “giáo sư”/ Mồm mép ba hoa đầu cạn chữ/ Nói năng bẻo lẻo óc khan từ/ Giả chân, chân giả, đâu là giả/ Nào biết rằng ai khóc Tố Như (Học vị hư – Lê Văn Lân).

 

          Từ những cuộc tiếp xúc cử tri này, tôi thấy mình được học hỏi rất nhiều điều về cuộc sống vốn sinh động, phong phú, đa sắc màu, được hiểu biết nhiều hơn hai chữ “lòng dân” như có lần tôi đã ngợi ca: Huế với ta như da với thịt, Huế nuôi ta tình nghĩa đồng bào, ta vì Huế một đời nguyền chiến đấu, Huế vì ta ơi Huế đẹp sao! Ta sống giữa lòng dân Huế tự hào!

 

         Việc tôi bỏ một lá phiếu duy nhất không đồng tình với dự án xây dựng một hệ thống khách sạn của người nước ngoài trên đồi Vọng Cảnh trong phiên họp bất thường của Hội đồng nhân dân tỉnh (khóa V) ngày 5-4-2005 cũng là xuất phát từ lòng dân. Với người dân Huế nguồn nước sạch từ thượng nguồn sông Hương, cảnh quan thiên nhiên trữ tình thơ mộng nơi này là vốn quý của Huế cần được bảo vệ, gìn giữ. Khát nguyện chính đáng ấy của người dân Huế đã được đáp ứng, đồi Vọng Cảnh được giữ nguyên vẹn, hiện nay rừng thông trên đồi Vọng Cảnh đã lên xanh. Du khách tiếp tục lên đồi ngắm dòng sông Hương xanh, mặt trời rực đỏ chợt hòa tím sắc quê hương…

 

          Xuất phát từ lòng dân, tôi mong mình có những định hướng mới trong sáng tác, và với vai trò một đại biểu hội đồng nhân dân thì phải làm thế nào để thâm nhập vào thực tiễn sinh động của cuộc sống; cảm nhận sâu sắc được những hy sinh, cống hiến lớn lao của nhân dân, của bà con nông dân, lao động từ làng bản, ruộng đồng đến phố phường đô thị để có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật sát với thực tế, với những điều kỳ diệu mà nhân dân đang tạo nên trên vùng đất tôi đang được sống và chở che.

 

          Những bài thơ viết về các địa danh Phú Đa, Phú Lương, Phú Hồ, Phú Xuân, Vinh Phú… trong tập thơ “Ruộng đồng tôi yêu dấu” là thành quả tôi gặt hái được từ những chuyến đi tiếp dân, tiếp xúc cử tri với các anh Bạch Hiền, Hồ Văn Hiền trong nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IV tại địa bàn Phú Vang. Cho đến lúc này, vẫn còn sáng lên trong ký ức tôi hình ảnh của những quê cát nghèo khổ nhưng anh hùng Đa, Hà, Phú, Thái“Anh về nhớ ở lâu lâu, quê em cát trắng chung màu trăng quê (Bài thơ Vinh Phú quê em). Những lần anh Bạch Hiền đề nghị tôi đọc thơ trước cử tri đã thành những kỷ niệm đẹp, khó quên, nhất là lần ở Phú Hồ, quê hương anh sau cơn lũ lịch sử 1999: “Dẫu mạ chưa xanh trên cánh đồng sau lũ/ Người Phú Hồ hẹn một đông xuân…” (Bài thơ Hẹn một đông xuân).

 

          Những chuyến đi giám sát với Ban Văn hóa Xã hội Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa V (nhiệm kỳ 2004 – 2011) cũng là những bài học mới mà tôi tiếp thu được từ thực tiễn. Hai từ “trung thực” có một ý nghĩa rất lớn và thật sâu sắc đối với tôi qua các lần giám sát. Bằng sự phản ánh, báo cáo trung thực từ phía các cơ quan, đoàn thể, từ phía cử tri, từ Ban Văn hóa Xã hội… mà các sự được, mất, vui, buồn… của người dân được hiện lên rõ nét, để từ đó sẽ có những điều chỉnh kịp thời cho cái được, cái vui ở lại mà cái buồn, cái mất tan đi theo thời gian...

 

Những năm tháng làm một đại biểu hội đồng nhân dân tôi hiểu tôi còn nhiều kỷ niệm sâu sắc nhớ đời không thể phai quên. Do chưa thể hiện trọn vẹn trách nhiệm công dân, trách nhiệm của người con quê hương trong quá trình làm đại biểu hội đồng, cho nên tôi tự nhủ với chính mình là còn phải tiếp tục cố gắng phấn đấu để mong được hoàn thiện bản thân, tiếp tục sử dụng vốn sống phong phú mà tôi tiếp thu được trong những năm làm đại biểu vào những trang viết sau này. Những trang viết của lòng dân, từ lòng dân và sự trung thực.

 

 Huế, 20-3-2011.

 

ÁNH MẮT

 

Ánh mắt. Ánh mắt ai? Tất nhiên là mắt em rồi. Mỗi lần được nhìn đôi mắt em mở to, trong veo tia nhìn pha lê, không dưng tôi thoáng chút bồi hồi. Biết ơn ba mẹ đã cho em ánh mắt giàu có nguồn tin yêu, sang trọng mà thân thiện.

 

Ánh mắt em như thầm nói với tôi: Ta với người không quen biết. Ta với người vốn xa lạ. Mà sao người cứ nhìn vào mắt ta trong từng thời khắc mỗi ngày? Bình minh. Ban trưa. Hoàng hôn. Nửa khuya... Sự chân thành của người dành cho ta đang làm ta bối rối. Người là ai?

 

Ánh mắt. Em đã thu hết những buồn vui từ trái đất này vào ánh mắt. Đôi mắt em đã thầm nâng vẻ đẹp gương mặt em có bờ môi hiền con gái ẩn giấu những nụ cười bao dung. Có những sợi tóc vương víu hồn nhiên trên vầng trán em thông minh. Em không hề hay biết ánh mắt mình là tứ cho nhiều bài thơ trong thiên hạ. Là ý đẹp cho những dòng văn lấp lánh hân hoan ngợi ca. Em bình yên một cõi. Tôi vẫn lặng thầm hình dung em với những tháng ngày em đang trăn trở về quá khứ, về tương lai và nhất là về một hiện tại đầy tình mà em đang mong được chăm chút, bồi đắp cho riêng mình, cho những người em hằng thương quý.

 

Ánh mắt. Ánh mắt ai? Tất nhiên là mắt em rồi. Tôi tưởng tượng mỗi lần nhìn vào gương soi em cũng tự thấy mình có đôi mắt đẹp. Cánh cửa tâm hồn nhân ái, yêu thương của em rộng mở trước cuộc đời. Và tôi biết không khổ đau nào có thể làm mắt em u uẩn. Em dịu dàng bay vượt lên những hệ lụy đời. Ánh mắt em long lanh sáng. Nguồn sáng thiên ân...

 

Huế, 14-3-2011.

 

NGUYÊN TIÊU

 

Rứa là từ nay Nguyên tiêu hai ta không bên nhau!

 

Em một mình nơi non ngàn núi biếc

 

Anh một mình vườn nhỏ lá đào rơi.

 

Nhớ một lần Nguyên tiêu anh đưa em lên đồi Vọng Cảnh, khi ấy đã có các thân hữu đất Thần kinh đang bày dạ yến thưởng trăng. Sông Hương lấp lánh uốn mình vòng quanh Chén Ngọc. Anh hạnh phúc khi trong từng khoảnh khắc đẹp, trên từng không gian xanh tinh anh của Huế dấu yêu em luôn bên anh!

 

Rứa là từ nay Nguyên tiêu hai ta không bên nhau!

 

Em một mình nơi non ngàn núi biếc

 

Anh một mình vườn nhỏ lá đào rơi.

 

Nhớ có lần em hỏi anh: Mỗi đêm anh thường ca Huế trên sông Hương về khuya, ai đưa anh về? Anh đã trả lời với em bằng mấy dòng thơ:

 

Đêm đêm anh lặng lẽ trở về

 

Đường chợt dài theo khuya lá rớt

 

Nỗi cô đơn trên hồn anh choáng ngợp

 

Chiếc bóng mình nghiêng ngửa mặt đường khuya

 

Anh một mình qua các ngả đường khuya

 

Cột đèn vàng lắt lay bóng lá

 

Đêm Huế hiền lành cánh tay người mẹ

 

Đưa anh về là một áng trăng chênh!

 

Trăng chênh đưa anh về cùng em mỗi đêm đang đợi chờ anh dưới mái tranh mỏng manh. Mái tranh một thời hàn vi đã từng làm Ca Dao trở mình vì mưa dột:

 

Mưa vô tình nhỏ xuống chỗ con nằm

 

Con trở giấc đôi mắt tròn ngơ ngác

 

Ngủ đi con nắng lên rồi hết dột

 

Nhà mình nghèo mưa đã nên thương!

 

Rứa là từ nay Nguyên tiêu hai ta không bên nhau!

 

Từng hồi ức về em đang tái hiện dịu dàng nguồn rung cảm riêng anh. Cho anh không thấy mình đơn độc.

 

Đêm nay ngước mắt lên cao xanh anh nhìn rõ dáng hình em hiền hậu đang hóa thân cùng vầng trăng Nguyên tiêu viên mãn diệu kỳ!

 

Rứa là...

 

Người thương ơi!

 

Huế, Nguyên tiêu 2011.

 

XÔI CHUÔNG

 

Viết tặng Tiểu Kiều

 

Em ngạc nhiên không khi anh mời em thưởng thức món xôi chuông mỗi sáng thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu trong tuần? Em ngỡ ngàng ư? Em ngạc nhiên à? Răng anh gọi món xôi đậu xanh này là xôi chuông? Em mới chỉ thấy có xôi vò, xôi khúc, xôi gấc, xôi bắp… thôi mà!

 

Như em đã biết, anh vẫn thường thức sớm (vào mỗi ngày đúng lịch đưa em ra Bệnh viện Trung ương Huế) để chuẩn bị mọi thứ cho em, trong đó có việc nấu cho em món xôi đậu xanh em thích. 4 giờ sáng, anh vo nếp đậu xanh rồi ngâm chừng ba mươi phút. Em đã từng dặn anh phải ngâm một thời gian để đậu xanh mềm, dễ ăn mà lại ngon. Những hạt nếp trắng thuần khiết, tinh khôi ban khuya nằm đan xen trên nền xanh của đậu thật hài hòa, dễ thương. Qua màu sắc này đôi lúc anh tha hồ tưởng tượng. Tưởng tượng ấy là trang cổ tích về tình nghĩa vợ chồng trước sau như nhất, đan quyện, yếm âu trong suốt một đời phu thê trìu ái, là bài thơ ngợi ca những cuộc tình không chia lìa đôi lứa, là bức tranh lung linh điệu luân vũ tuyệt vời nâng đời nhau thăng hoa theo tháng năm, hạnh phúc nguyên lành… Anh tưởng tượng như vậy là chỉ muốn để chuyển tải biết bao nguồn yêu thương sâu sắc nhất trong anh dành hết riêng em vào trong từng hạt nếp, hạt đậu xanh trước khi chúng chín thành xôi.

 

Rồi một hôm tình cờ, em biết không? Khi tay anh ấn nút vào nồi cơm điện để nấu xôi cho em thì chuông nhà thờ Phủ Cam ngân lên rộn rã, xuyến xao lòng. Trong tĩnh lặng không gian, trong khoảnh khắc yên ả đó, tiếng chuông giáo đường chợt gợi cho anh biết bao điều để nhớ, để thương về quá khứ đời mình. Hồi ức tuổi thơ cùng khổ bán mì, bán kem ở nhà thờ La Vang, Quảng Trị trong những ngày lễ hội với thanh thoát chuông nguyện diệu kỳ; nhớ kỷ niệm mỗi sáng Chủ nhật cùng đi lễ với các chị nữ tu Huế tại một nhà thờ nhỏ tại khuôn viên Viện Bài lao Huế trong thời gian mình bệnh hoạn sau những ngày xuống đường tranh đấu; hay liên tưởng tới một giáo đường nhỏ trong nhà tù Côn Đảo thời trai trẻ nhục nhằn mà hào khí…

 

Với anh, bất cứ tiếng chuông giáo đường ở thời kỳ nào, ở đâu cũng cho anh những nguồn bình yên, thanh thản. Tiếng chuông dường như luôn nâng niu tâm hồn anh mênh mông một cõi tình đầy.

 

Và thế là bắt đầu từ những ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu tiếp theo… anh chỉ bấm nồi cơm điện để nấu xôi cho em mỗi khi tiếng chuông nhà thờ Phủ Cam rộn ràng ngân. Anh lại tưởng tượng âm ba tiếng chuông giáo đường đang trang trọng, mượt mà len sóng ướp hồn vào trong từng hạt nếp trắng, trong mỗi phiến đậu xanh mềm. Âm thanh của bình yên, ung dung, tự tại. Âm thanh của đất trời thanh khiết, thiêng liêng. Âm thanh nhẹ nhàng, dịu dàng bao dung. Âm thanh của dũng khí, hào sảng giúp ta vươn ra khỏi cơn đớn đau thân xác, nỗi sầu khổ tâm hồn trên trần thế. Anh hình dung khi em thưởng thức xôi anh nấu em cũng sẽ ngậm mà nghe hòa thanh chuông giáo đường thân ái, chứa chan mạch nguồn yêu thương, nhân hậu và lòng em không vướng bận muộn phiền, em sẽ vô ngại, vô ưu, vô úy… cùng anh, cùng các con tiếp tục vững tin, chiến đấu với cơn bệnh hiểm nghèo.

 

Xôi chuông!

 

Thế là từ đây nhà mình có thêm món xôi chuông em nhỉ! Món xôi dạt dào giai điệu đẹp hồn chuông!

 

Huế ,những ngày mưa lụt tháng 10 âm lịch, 16- 11 - 2010.

 

     NẤM TRÀM

 

Hôm qua Ca Dao điện thoại thông tin: "Khánh Hòa, bạn con sắp vô Sài Gòn, nếu có nấm tràm mẹ gởi vô cho con mẹ nghe!".

 

Hai, ba hôm nay, Huế không có cơn mưa chiều, ít hy vọng có nấm tràm nơi chợ Bến Ngự. Nhưng biết Ca Dao đang thích, đang ưng nấm tràm nên ba mẹ vẫn nuôi mầm hy vọng. Biết mô trời thương!

 

Rứa là trưa ni, từ bệnh viện Trung ương Huế, ba chở mẹ thẳng lên chợ Bến Ngự. May mắn thay có một o bán nấm tràm.  Trời thương Ca Dao ghê! Bao nhiêu nấm lớn nhỏ mẹ nhờ o cân hết. Một trăm mười ngàn đồng, không thêm không bớt. Nguồn vui dâng lên trong lòng mẹ, lòng ba. Ca Dao hên ghê! Sắp tới tại Sài Gòn Ca Dao sẽ có một màn cháo nấm tràm xôm tụ với bạn bè đây!  Sao Khuê thì răng hè? Sao Khuê thì xa xôi quá, đành hẹn Sao Khuê một lần về bên mẹ, bên ba, với Thu Phương... đúng vào mùa nấm tràm xứ Huế.

 

Để giữ nấm tràm được lâu, người Huế đã biết cách chế biến như sau:

 

1. Gọt sạch gốc (chân) nấm tràm.

 

2. Ngâm nấm tràm vào nước muối vài giờ đồng hồ.

 

3. Luộc nấm tràm sau khi đã rửa sạch nước muối.

 

4. Luộc xong cho ra rổ, rá để thật ráo nước.

 

5. Ép thật chặt cho nấm tràm hết nước rồi bỏ nấm tràm vào hộp đậy kín và để lên ngăn đá tủ lạnh, khi nào cần ăn thì lấy ra nấu cháo hoặc xào, nấu canh tùy sở thích.

 

(Tại chợ Đông Ba thời điểm này bán một cân nấm tràm khô với giá từ 300.000 đồng đến 350.000 đồng).

 

Buổi chiều, quên bệnh, mẹ Ca Dao ngồi trước hiên nhà gọt chân nấm tràm với bà ngoại. Hình ảnh hai người phụ nữ Huế rất quen thuộc trong mùa nấm tràm có gợi nhớ điều chi trong con không Ca Dao, Sao Khuê? Ba lơn tơn chạy ra: "Tiểu Kiều cho anh xin một ít nấm tràm xào ăn buổi tối hí!" -  "Anh ni nờ! Của Ca Dao đó!", vừa nói Tiểu Kều vừa lấy nấm tràm đã gọt chân đưa cho người chồng. Người chồng hí hửng bưng chạy vô bếp. Tôm, thịt ba chỉ ướp tiêu hành gia vị...  được tao lên. Nấm tràm được luộc qua trước khi xào cùng tôm, thịt. Người chồng xào xong món nấm tràm liền chạy lên lấy máy ảnh xuống chụp ảnh món nấm tràm đã múc ra tô. Tiểu Kiều cười: "Được con trai cho cái máy ảnh nên thích khoe. Cha con có khác!".

 

Còn niềm vui, hạnh phúc  nào lớn hơn niềm vui NHÀ, hạnh phúc NHÀ? Nấm tràm ăn vào ban đầu có vị đắng nhưng sau đó lại có vị ngọt hay hay... Ăn dần thành quen, quen rồi "nghiện". Hạnh phúc NHÀ có vị đắng của nấm tràm vì đôi khi xa cách người thân yêu. Hạnh phúc NHÀ có vị  ngọt của nấm tràm nhờ tình yêu vợ dành cho chồng, con cái dành cho cha mẹ và ngược lại. Trong NHÀ ai cũng muốn được thương yêu nhau, cùng san sẻ cho nhau.

 

Đắng - ngọt đằm trên môi người, sâu lắng trên hồn đời...

 

Nấm tràm ơi!

 

Huế, 6-9-2010.

 

RẠO RỰC VỚI PHƯƠNG NAM

 

            Những ngày cuối tháng tư, tôi rạo rực nhớ phương Nam khi không được cùng anh chị em cựu sinh viên Huế vô Sài Gòn nhân dịp 35 năm ngày 30-4. Không có mặt tại Sài Gòn trong những ngày ni là không được gặp các anh chị em phong trào đô thị Sài Gòn thương yêu một thuở xuống đường, một thời lửa dậy. Từng gương mặt bằng hữu Sài Gòn hiện lên trước mắt dù mới 26 tháng 3 đây thôi những anh chị em Sài Gòn đã ra Huế hội ngộ đoàn viên mừng Huế 35 năm ngày 26- 3... Rứa là năm ni tôi không có dịp để đọc lại bài thơ "Thừa Phủ ơi lòng ta hồng biển lửa!" để anh chị em phong trào Sài Gòn nghe mà nhớ, mà thương. Rứa là tôi không về giữa vòng tay thân ái của các má Sài Gòn nhân hậu, nồng nàn một tình yêu quê nhà yêu dấu… Rứa là...

 

Rạo rực với Sài Gòn!

 

Tôi còn rạo rực với Cần Thơ... Nhịp cầu mới tôi từng thầm hẹn sẽ về trong ngày nối hai bờ sông Hậu. Rứa mà... Tôi gọi điện thoại vô bằng hữu Cần Thơ trong nuối tiếc, bâng khuâng. Những tháng năm dài qua tôi từng lênh đênh trên dòng Cửu Long, vốc nước sông, nhai trái bần "đưa cay" với các anh chị em văn nghệ sĩ miền Tây và có lần đã lên bờ với đôi chân trần sau một chầu cá bè, rượu gạo, vọng cổ:

 

trong rì rào sóng vỗ

 

tôi thả tôi theo dòng

 

riêng tấm thân tứ đại

 

lên bờ đôi chân không..

 

Mới nghe như thơ thiền mà té ra là mình đã để quên đôi giày trên bè cá.

 

         Cầu Cần Thơ đã khai thông trong ngày 24-4-2010 không có tôi trong dòng người tươi tắn ấy. Tôi rạo rực nhớ, rạo rực tiếc nuối rồi cũng xốn xang buồn vì biết mình từ nay về sau sẽ chưa biết đến khi nào mới có những chuyến đi dài và xa như trước nữa. Tiếng gọi phương Nam đang thành điệp khúc sầu tình trong tâm hồn tôi nơi Huế lắng sâu này. Rạo rực với phương Nam!

 

        Bạn bè ơi cho tôi gởi lòng tôi theo với! Cho tôi cùng đang lang thang trên từng con  phố Sài Gòn. Cho tôi cùng đang qua cầu Cần Thơ với bước chân trần, tóc bay trong nắng chiều gió lộng phóng khoáng, hào khí phương Nam...

 

       Rạo rực phương Nam... Cho gởi lòng tôi theo...

 

Huế, 28-4-2010.

 

BAN MAI BÔNG SÚNG

 

Chừ đang là những ngày mùa đông. Trời Huế chợt đẹp lên khi tôi về. Hoàng Hà, em Tấn trong Câu lạc bộ Sao Khuê cùng tôi rủ nhau thả bộ từ Ngọ Môn tới cửa Hiển Nhơn rồi ra cửa Quảng Đức. Lâu rồi cứ ngồi trên gắn máy phóng qua những con đường Huế nên không cảm nhận được vẻ đẹp Huế trong lắng sâu của riêng mình. Nay thư thả, chậm rãi, yên ả trong từng bước nhỏ, lòng chợt thấy gần với Huế chi lạ rứa!

 

Hộ thành hào bao quanh kinh thành Huế mùa ni không còn bông sen, thay vào đó là bông súng. Đinh Khắc Thịnh có lần nói với tôi bông súng đẹp nhưng rất tiếc cái tên lại là súng. Súng gợi một điều gì đó thật bất an. Đúng như rứa thật. Tra từ điển tiếng Việt thì từ súng được diễn giải như sau: “Súng, danh từ, binh khí nạp thuốc và đạn mà bắn; thứ cây mọc dưới nước như sen nhưng lá nhỏ hơn có cọng ăn được.” Nhưng sá chi cái tên Thịnh nhỉ. Liên tưởng chi tới cái thứ vũ khí bất nhân kia. Trước mắt chúng tôi là hoa súng. Phóng tâm lành tới sắc hồng của hoa đang soi bóng nuớc mặt hồ. Bông súng ôi chao ơi là đẹp!
Máy hình tôi chỉ là loại chỉ để chụp chơi, bấm hình lưu niệm, không đủ điều kiện tinh vi, tối tân để tạo nên ảnh hình nghệ thuật. Nhưng có răng mô bé Hà hè! Cứ chụp hình bông súng. Bông súng rất đẹp. Bông súng chợt có hồn, rất người trong ý nghĩ tôi.

 

Ảnh đầu tiên là bông súng bình yên bên cạnh Phu Văn Lâu, một công trình đã đi vào thơ ca âm nhạc. Ngọ Môn năm cửa chín lầu, kỳ đài ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng. Phu Văn Lâu trở thành một chỗ dựa tin cậy của bao mùa bông súng. Cả hai hình ảnh trong mắt nhìn trìu ái của tôi trở nên gần gũi, gắn bó lạ kỳ. Bông súng đang muốn tôn tạo thêm cho cảnh quan kiến trúc Phu Văn Lâu. Phu Văn Lâu dường như mong được chở che bông súng trong tiết trời đông xứ Huế.

 

Tấm hình thứ hai là một gia đình bông súng. Những cành bông súng búp và nở. Những tàn lá súng nổi hay chìm khuất cứ lung linh. Bông súng thương yêu, quấn quýt nhau rất tình cảm giữa lòng hồ. Tôi hình dung trước mắt tôi là một mái ấm hiền lành như bao mái ấm hiền lành trong Huế dịu dàng nhân hậu.

 

Tôi cũng phát hiện có hai chị em bông súng đang trò chuyện ban mai. Một nở hồng bao dung, hiền thục. Một non tơ trong búp súng xuân thì. Hai chị em thì thầm, nhỏ to với nhau điều chi rứa? Chỉ có làn gió nhẹ trên hộ thành hào là nghe được tiếng tâm tình bông súng? Chỉ có nguồn đồng cảm thiên nhiên mới hiểu được lời chị em bông súng gởi trao?

 

Tôi chỉ cho Hoàng Hà hai cành bông súng khác đang lồng bóng nước và nói: Đẹp chưa! Đôi bông súng ấy đang nâng niu đời nhau. Âu yếm, ân tình. Không tin thì bạn thử nhìn xem. Nhớ chụp hình lẹ lên và đừng làm kinh động cuộc hẹn hò bông súng. Thời gian vốn hiếm hoi và qua mau. Hãy cho nhau tận cùng nguồn rung cảm thiên nhiên thuần khiết. Xin chúc cuộc tình bông súng thơm trong từng sát na hạnh phúc diệu kỳ.

 

Mà không chỉ có đôi tình nhân kia đâu! Còn đây một cuộc hẹn hò trai gái khác. Tôi trang trọng thầm xin hai bạn cho tôi được ghi lại khoảnh khắc tuyệt vời này. Hai bông súng tình nhân đan vào nhau, như hóa thân thành một và hồng lên trong ánh ngày đông. Tôi bâng khuâng: Cơ chi người cũng như bông súng. Tròn một đời hiến dâng cho cuộc tình đầy!

 

 

 

                                                 Huế, 14- 11 - 2009

 

   VỀ HUẾ ĂN HÀNG

 

Người Huế không gọi ăn quà mà là ăn hàng. "Chà chà trái ớt hắn cay. Có cay con gái mới hay ăn hàng". Về Huế lần này tôi cũng đi ăn hàng không thua chi con gái. Trước khi ăn tôi không quen chụp hình món ăn với ý muốn khiêm tốn làm bộ sưu tập ẩm thực Huế nho nhỏ của riêng mình.

 

Trước hết là những món chay ở quán chay Liên Hoa trên đường Lê Quý Đôn gần sân vận động Huế. Vui nhất là khi đang thưởng thức món gỏi "Thập nhi nhân duyên" với bé Hà và Quang thì có một nữ tiếp viên tới nói bọn em đang cá nhau về nhà thơ. Nhà thơ Võ Khuê hay Võ Quê? Tôi mở bóp đưa chứng minh nhân dân: Em đem thứ ni để mấy người coi cho chắc! Lát sau người tiếp viên mang chứng minh nhân dân lên trả. Tôi hỏi em thắng hay thua? Người nữ tiếp viên bẽn lẽn dạ thua. Tôi thầm nghĩ thì ra người ấy có ý tốt với mình, vì dầu sao Khuê cũng hay hơn Quê mà.

 

Món thứ hai là chả ốc ở nhà hàng Mỹ Hương, 79 Bà Triệu của cô chủ quán có tên Hương. Cô Hương cho biết ngoài món chả ốc, cô rất thích các món nướng. Cô định vài bữa nữa sẽ cùng người làm bếp vô Nam Bộ học cách nướng trong ấy. Tôi nhắc với Hương nhớ khi làm các món nướng đừng quên các đặc sản Huế. Tôi nghĩ vui trong đầu vài bữa có món nướng có lẽ tên quán là Hương Nắng. Hương Nắng vì cô chủ rất thích thú, "hăng" hái với các sản phẩm "nướng".

 

Món thứ ba là bánh canh cua ở 26 Lê Lợi Huế. Nơi đây tôi đã từng đưa nhiều bạn bè phương xa đến thưởng thức bánh canh cua o Vui. Ban đầu bánh canh cua o Vui chỉ là một gánh bán rong nhưng nhờ bánh canh cua ngon nên o Vui đã định vị một chỗ, không còn vất vả, mỏi vai, mỏi chân như trước.

 

Lâu không ăn cơm hến cũng thấy thèm bèn ghé quán cơm hến bà Cam ở đường Trương Định để thưởng thức. Bà Cam chỉ còn tên trên bảng hiệu, hiện nay ngồi bán thay bà Cam là o Hồng. Nhớ trước đây đã từng mời bạn bè gần xa ăn cơm hến, bún hến với lời dặn ăn cho biết chứ ngon hay dở còn tùy khẩu vị, bụng dạ của mỗi người. Mới đây là Chinhnguyen (Quỳnh Tèo) và Hằng từ Sài Gòn ra cũng đã tới quán bà Cam, hai bạn ăn cơm hến xong còn tráng miệng với chè Trương Định bên cạnh quán cơm hến này. Nói chuyện cơm hến thì nhớ bài thơ lục bát đặc sản Huế về cơm hến. Lần đầu tiên tôi đã đưa được món mắm ruốc vào thơ:

 

Đã mê ớt đỏ cay nồng
Tìm trong vị hến một dòng Hương xanh
Ruốc thơm cơm nguội rau lành
Mời em buổi sáng chân thành món quê.

 

Cháo lòng bà Đồng trên đường Nam Giao (nay là tên Điện Biên Phủ) cũng đã rất nổi tiếng từ xưa đến nay. Người kế nghiệp cháo lòng bà Đồng hiện nay là người con gái. Hương vị cháo lòng với thế hệ nối tiếp vẫn ngon lành, đậm đà như trước. Tôi cũng rất quen thân với nơi đây nên đã nhiều lần tìm đến. Ba tháng trước tôi đã mời các em Câu lạc bộ Sao Khuê thưởng thức cháo lòng bà Đồng và các em đọc những sáng tác thơ văn mới viết tại đây. (Nói thêm là ngày xưa mạ tôi cũng bán cháo lòng ở chợ Chuồn mà nuôi chúng tôi ăn học. Bây giờ kế nghiệp cháo lòng mạ tôi ở làng Chuồn là các con của chị Gái – chị Gái là con người bác ruột của tôi.)

 

Đã hẹn với Câu lạc bộ Sao Khuê sinh hoạt xong sẽ mời các em thưởng thức bánh khọt Vũng Tàu trên đường Phan Chu Trinh, Huế, nên về Huế lần này tôi đã thực hiện được lời hứa với các em. Chỉ tiếc thiếu Lý Hạnh và Huỳnh Hà, Đăng Thư... ba nhân vật đang làm xôn xao dư luận ở Huế với clip “Nước mắt bào thai” là Hoàng Hữu Phước, Hồng Liên, Mỹ Lam…

 

Về Huế ăn hàng… Còn nhiều món chay mặn nữa. Hẹn lần trở lại Huế trong thời gian tới sẽ tiếp tục la cà lang thang quán xá ban sáng, buổi trưa, chiều, tối, khuya…

 

Về Huế ăn hàng… Không quên biết ơn những người đã làm nên những món ngon để đời trên đất Huế:

 

Mặn chát cay chua tê ngọt đắng béo bùi

 

Em ươm cả hương vườn lên cuộc sống…

 

Huế, 15-11- 2009

 

BÔNG VƯỜN NHÀ 

 

Trước sân nhà tôi là bông phượng kim vàng và bông trang đỏ. Gió đưa gió đẩy bông trang, bông búp về nàng bông nở về anh. Mới hay người xưa rất tinh tế khi viết bông búp về nàng. Sự nguyên vẹn ban đầu thuần khiết tinh khôi luôn luôn thuộc về người nữ. Anh dành hết cho em nét tròn đầy một thuở. Chàng trang trọng hướng về thiếp dáng trinh tuyền cao quý. Còn bông nở về anh? Ừ thì bông nở về anh!

 

Những năm qua vườn nhà tôi trồng rất nhiều báo hỷ lan (thiết mộc lan). Khi đến mùa hoa nở hương ngát thơm về đêm. Qua làn hương báo hỷ lan tôi từng hình dung những kiều nữ liêu trai về trong ban khuya rất huyền hoặc hư ảo, những chuyện tình hồ ly một thuở. Bây giờ báo hỷ lan thôi không đơm hoa. Người bạn đời không thể thích ứng được với làn hương báo hỷ lan vì một cơn bệnh thuộc về khí quản. Tôi đành tạm thời xa báo hỷ lan và thầm mong người bạn đời không còn nhọc nhằn trước những làn hương. Tôi biết báo hỷ lan cũng đồng cảm với tôi về điều đó và tôi tin báo hỷ lan đang chờ tôi...

 

Sau vườn nhà tôi là cây bông cẩn màu phấn vàng phơn phớt. Người Huế không gọi dâm bụt mà gọi là bông cẩn. Một lần lên anh Lê Trường Quỳnh trên Văn Thánh tôi đã xin lại nhà thơ Trần Vàng Sao một nhánh bông cẩn để về trồng. Không biết nhánh cẩn nhà Trần Vàng Sao ra sao nhỉ? Có đơm vàng nơi Vỹ Dạ quê anh?

 

Ngoài bông cẩn, sau vườn nhà tôi còn có cây phượng kim màu hồng phấn. Trong một lần về Vũng Tàu tôi đã xin cây bông phượng kim trong vườn nhà anh Đỗ Vũ Mão Giám đốc Nhà Sáng tác Vũng Tàu vài hạt giống. Anh Mão hoàn toàn không biết chuyện này. Tôi chỉ xin với cây mà không nói với anh. Ở Huế phượng kim màu vàng, màu đỏ có nhiều nhưng hiếm thấy phượng kim màu hồng phấn. Mỗi lần bông phượng kim hồng phấn trỗ bông tôi lại nhớ Vũng Tàu. Nhớ Vũng Tàu thì liên tưởng biết bao nhiêu chuyện buồn vui nơi vùng sóng biển dạt dào tình.

 

Bông vườn nhà tôi không nhiều, chỉ là những loài bông không phải bỏ công chăm sóc. Tôi yêu hoa nhưng lại hay đi, thường xa nhà luôn nên phải chọn tìm những cây bông dễ sống trong thời tiết khắc nghiệt mưa nắng thất thường của Huế. Nhớ có lần các bác trong hội cây cảnh Huế có nhã hứng gợi ý tặng tôi vài chậu bông quý, đẹp. Tôi từ chối xin không nhận và thưa: “Bông ở với các bác thì mãi là thiếu nữ. Bông quý về nhà con thành bà lão hay chỉ có tàn phai. Con yêu hoa nhưng không có tay trồng hoa và con lại luôn nước non ngàn dặm...”.

 

Sáng nay về giỗ đầu của mạ, tôi lặng lẽ trang trọng xin cây cho tôi những cành bông dâng cúng mẹ. Xin được vụng về chụp những tấm hình bông phượng kim, bông trang và bông cẩn. Bông vườn nhà cho tôi thực hiện được trọn vẹn lời tôi nói với Tiểu Kiều hôm đầu tiên tôi đưa Tiểu Kiều về làm dâu mạ: Làm răng để nhà mình luôn có hoa!

 

                                                         Huế, 13-11-2009.

 

                                         VỀ CHỢ CHUỒN

 

Hôm qua mừng 110 năm chợ Đông Ba, hôm nay tôi tới chợ Chuồn. Từ Đông Ba tới chợ Chuồn, chợ mô cũng đẹp ngọn nguồn quê hương. Chuồn là tục danh của làng An Truyền cách thành phố Huế chừng sáu ky lô mét về hướng đông. Tôi đã được chôn nhau cắt rốn nơi đây. Mạ tôi cũng nhờ chợ Chuồn mà nuôi một đàn con đông ăn học nên người. Thuở ấy mạ tôi bán cháo lòng và các loại bánh ít, bành bèo, bánh ướt, bánh nậm... Chị Gái con gái của bác ruột tôi sau này cũng bán cháo lòng rồi truyền nghề cho con gái là Rê tiếp tục bán cháo lòng ở chợ Chuồn. Dạo này nghe nhiều người khen cháo lòng o Rê ngon tôi cũng vui thầm...

 

Mới hôm kia tôi và các bloger TKO, Chinhnguyen, Hằng, Cindy cùng chị Võ Ngọc Lan về tặng áo cho các em học sinh nghèo ở trường làng. Chỉ tiếc bữa đó chưa kịp mời các bạn thưởng thức đặc sản làng Chuồn: bánh tét, bánh khoái cá kình, rượu Chuồn… Hy vọng có một ngày bạn bè, những người tôi thương yêu là Tiểu Kiều, Ca Dao, Sao Khuê, Thủy, bé Ty, Hiep Tran, bé Nận, bé Hường… cùng tôi về tới chợ Chuồn với “tâm hồn đặc sản”.

 

Tôi đi một vòng chợ Chuồn, hồi ức tuổi thơ chợt về theo. Năm ngoái khi đưa mạ về làng, linh cửu mạ dừng mươi phút ngay trước chợ Chuồn. Những nén hương bà con trong chợ Chuồn thắp lên tiễn đưa hương linh mạ còn thơm trong tâm hồn tôi nguồn biết ơn sâu sắc. Trong khoảnh khắc ấy âm dương dường như không cách biệt. Mạ đang đi giữa chợ Chuồn trước khi về yên nghỉ bên kia cánh đồng làng. 

 

Cầm máy hình, tôi đi một vòng quanh chợ. Tôi ghé hàng cau trầu trước tiên. Mệ vừa xoáy xong một miếng cau trầu đưa lên miệng ngon lành. Giá như chừ có mạ con đã xoáy mời mạ một miếng cau trầu thơm thảo.

 

Trước hàng cau trầu là một mệ với mớ rau tươi. Gương mặt mệ hiền chi lạ! Chụp hình mệ mà lòng rưng rưng... 

 

Làng Chuồn có nghề làm mắm rò cũng rất nổi tiếng. Mắm rò làm từ cá kình loại nhỏ bằng đầu ngón tay út. Màu đỏ thắm của ớt, vị chua chua, cay cay… mắm rò dễ làm người ta liên tưởng đến món tôm chua Huế. Nhìn mệ Nhỏ bán mắm rò mân mê từng quả ớt mà thương. Tại góc chợ Chuồn này mệ đã bán mắm rò từ thời thiếu nữ...

 

Hàng cá chợ Chuồn có cá nước lợ là cá đánh bắt được từ đầm Chuồn: cá kình, cá bống thệ, cá mú, cá tràng, cá nâu... Cá bống thệ cũng là một đặc sản vùng đầm Chuồn. Cá bống thệ thường được kho khô. Cá kho càng cứng càng ngon. Món cháo gạo mà ăn với cá bống thệ kho khô thì thật hết chê! Cá bống thệ nấu canh với cà chua bi, cũng thơm ngon đáo để... Hàng cá chợ Chuồn còn có nhiều cá biển tươi ngon: cá thu, cá ngừ, cá nục, cá hồng, cá lạc...

 

Phụ nữ làng Chuồn mới sáng sớm đã buôn cá từ chợ Chuồn lên bán khắp các chợ lớn nhỏ trên thành phố Huế: Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự, chợ Cống, chợ Xép… Thỉnh thoảng đi chợ tôi được mấy mẹ, mấy o… chào hỏi, gọi mời: “Cá kình bữa ni ngon, Võ Quê mua về đổ bánh khoái cho vợ con ăn nì!”. Người làng Chuồn lớn hay nhỏ thường gọi luôn cả họ tên tôi mà không có từ em, chú, bác… kèm theo. Với tôi đây cũng là một hạnh phúc...

 

Bánh khoái cá kình là một đặc sản chỉ có ở chợ Chuồn. Muốn ăn bánh, phải trực tiếp tới mua cá kình đem về hàng bánh khoái. Người ăn chỉ việc trả tiền bột, tiền công cho người đổ bánh. Sáng nay tôi mua 20.000 đồng cá kình nơi mệ Hạnh. Mệ đang đếm cá kình bán cho tôi đổ bánh khoái đó.

 

Cá kình thịt thơm, ruột cá kình ngon, ăn nhiều thì ngủ tốt. Bên cạnh món bánh khoái, cá kình còn để nấu canh thơm (dứa, khóm) rất tuyệt vời!

 

O Lành đổ bánh khoái nụ cười tươi rói. Bánh khoái vừa nóng vừa thơm, hấp dẫn, chưa ăn đã thấy thèm! Tôi cũng không quên mua năm đòn bánh tét Chuồn làm quà cho các bạn đồng hành bởi sáng nay (5- 6 - 2009) tôi về chợ Chuồn với đoàn làm phim Ban Văn nghệ Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Huế. Bạn có tin không: Tôi đang làm diễn viên!

 

Huế, 5-6-2009.

 

    LẠI VỀ CHỢ CHUỒN

 

Đang mùa cá kình nên sáng nay (3-8- 2009) tôi cùng Tiểu Kiều, cô Diệu - em gái - về chợ Chuồn thưởng thức bánh khoái cá kình. Ngoài cá kình, còn có cá ong hương, đắt tiền hơn cá kình cũng được dùng để đổ bánh khoái, cá ong hương ngon, ngọt, béo, bùi không khác chi bánh khoái cá kình. Nhưng sở dĩ bánh khoái cá ong hương không nổi bằng bánh khoái cá kình vì cá ong hương không nhiều lại đắt tiền nên không được phổ biến một cách dân dã. Chỉ ai chịu tốn tiền thêm chút chút thì gọi bánh khoái cá ong hương thưởng thức chơi. O Lành (ảnh trên) chỉ việc lo bột gạo, nước mắm và đổ bánh, còn cá kình, cá ong hương thì khách tự mua đem đến cho o Lành.

 

Khi cả ba người chúng tôi đang chí thú với bánh khoái cá kình, cá ong hương thì mệ Ép, 85 tuổi hỏi cô Diệu: Hai người nớ là chi? Cô Diệu trả lời: Đó là hai vợ chồng anh Quê chị Kiều! Mệ thì thầm với Diệu: Hèn chi hai người nớ khi ăn bánh khoái mà cứ nhìn nhau! Nghe mệ Ép nói chuyện tôi mới sực nhớ làng Chuồn quê hương tôi có câu đồng dao rất vui về bánh khoái mà tuổi thơ thế hệ tôi đều thuộc nằm lòng:  

 

Hai vợ chồng

 

Hông vợ chài

 

Đổ bánh khoái

 

Cho nhau ăn... 

 

     Vợ chồng vừa đổ bánh khoái cho nhau ăn, vừa nhìn nhau như mệ Ép phát hiện thì đúng là khoái thiệt. Làng Chuồn ngoài chuyện nổi tiếng bánh khoái cá kình còn có rượu làng Chuồn, hai thứ này đi với nhau thì tuyệt và thế là tôi cũng đã đề thơ:

 

Cá kình vừa béo vừa ngon

 

Em đổ bánh khoái xương giòn thịt thơm

 

Vừa ăn vừa nhấp rượu Chuồn

 

Món quê dân dã tiếng đồn gần xa…

 

        Và bánh tét làng Chuồn cũng nổi tiếng dẻo, thơm cho nên cũng như mấy lần trước, tôi không quên ghé thăm o Hiệp mua mấy đòn bánh tét lên Huế và chụp hình o cùng bánh tét.

 

       Chợ Chuồn mỗi lần về tôi đều lâng lâng nguồn cảm xúc mới. Những nụ cười của các mạ, các o, các chị, các em gái chợ Chuồn đã cho tôi một tình yêu quê nhà vô hạn. Tôi tự sự với Tiểu Kiều: Thời anh năm sáu tuổi mạ anh bán cháo lòng, các loại bánh bèo, nậm, lọc, ram, ít... nên anh thường hay ra chợ với mạ. Tại chợ ba anh bắt anh hát bội cho mọi người nghe. Hình ảnh hàm râu làm bằng lá chuối hoặc sợi chuối rung rung trước gió sớm từ đầm Chuồn thổi vào đã thành hồi ức đẹp. Em về làm dâu làng Chuồn mà chỉ ăn xong bánh khoái cá kình, cá ong hương rồi lên. Dâu làng Chuồn sướng hí! Tiểu Kiều cười hiền: Mai mốt Kiều về làm dâu tiếp! Tha hồ mà bánh khoái cá kình...

 

Huế, 3-8-2009.

 

                    CHUYẾN TÀU DUYÊN

 

Lâu lắm không đi tàu lửa, chỉ thỉnh thoảng lên ga Huế tiễn người đi hoặc đón người về. Hôm nay được đi tàu lửa. Một người bạn làm ở ga Huế ngạc nhiên la lên: Ủa! Anh mà cũng đi tàu à! Tôi hiểu trong mắt bạn từ lâu tôi chỉ là một người đưa rồi đón. Đôi lúc Hải bắt gặp tôi đón đoàn này, đoàn kia, trong nước, ngoài nước... tay bắt mặt mừng. Đôi lúc Hải lại nhìn thấy tôi đứng ngẩn ngơ một mình chờ con tàu hút bóng. Khi ra Bắc, lúc vào Nam. Mà không ngẩn ngơ, thẫn thờ sao đặng bởi đoàn đi rồi chỉ còn lại tôi với một mình ên!

 

Đứng chờ tàu đến ga Huế, tự nhiên tôi thấy ai đồng hành cũng trở thành bằng hữu. Tứ hải giai huynh đệ thật đúng trong bối cảnh này. Đầu tiên là hai du khách Ái Nhĩ Lan nhìn tôi cười thân thiện và không từ chối đứng chụp chung một “pô” hình với môi cười rạng rỡ. Dọc đường thiên lý, có thêm bạn mới cùng đi cuộc hành trình dường như ngắn lại. Thông tin ngang dọc từ bốn phương tám hướng cũng tràn trề theo từng câu chuyện kể.

 

Lên tàu, trong toa máy lạnh có ghế ngồi mềm tôi bất ngờ gặp lại anh Hồ Văn Thái Huỳnh, một người bạn dân phong trào trước 1975. Qua anh Thái Huỳnh lại được làm quen với anh Phạm Điện. Cả hai đều có nhà ở Sài Gòn, gia đình ổn định, con cái thành đạt, ra thăm Huế quê hương rồi chừ quay trở vô. Ba anh em ngồi trong toa hàng ăn tàu SE3 đã rất sôi nổi khi nói về Huế.

 

Mới hay, càng xa Huế, càng lớn tuổi những hồi ức Huế càng mới tinh khôi từng chi tiết. Những cuộc tình học trò giữa học sinh Quốc học, Đồng Khánh. Những quán ăn dân giã mặn ngọt cay chua một thời trên đất Huế. Những giai thoại "mệ" buồn vui xưa nay. Những cuộc xuống đường mồ hôi, nước mắt, máu. Rồi Huế ăn, Huế ở, Huế mặc, Huế vui chơi. Huế thơ ca. Huế âm nhạc. Huế nắng Huế mưa… Tất cả cấu thành một bộ phim về Huế đẹp hình ảnh, giàu âm thanh và tỏa hương trong tâm hồn của những người xa quê vốn nặng tình với Huế.

 

Dường như đồng cảm với ba chúng tôi, những người đang làm nhiệm vụ trên toa hàng ăn cũng không giấu những nụ cười thân thiện, gợi mở. Chính sự gợi mở, thân thiện ấy đã giúp tôi tự tin hơn, có hồn hơn khi đọc những bài thơ, ca những bài ca về Huế. Không ngần ngại Phương Anh, một nữ nhân viên ngành đường sắt đã bấm giùm chúng tôi một khuôn hình và cũng rất vui, cởi mở khi chụp chung ảnh với người xứ Huế.

 

Tàu cứ lao vun vút trong chiều, trong đêm. Cảnh sắc hai bên đường cũng là những nét duyên quyến rũ người đồng điệu. Ngoài hai anh Thái Huỳnh, Phạm Điện trong toa tàu này tôi còn biết và làm quen thêm ni cô Thích nữ Diệu Thiện chùa Phước Thiện, Bến Cát Bình Dương, các em học sinh Hoàng Quý, Thu Huệ… vào Sài Gòn thi Đại học. Cùng được nhìn ngắm những gương mặt đồng hành khác trên chuyến hành phương Nam rạng rỡ và thân ái!

 

Và ba chữ "Chuyến tàu duyên" là tên tôi đặt cho trang viết ngắn này. Với tôi, đất nước mình ai cũng có thể tạo nên những thiện duyên từ trên mỗi cung đường…

 

Sài  Gòn, 26- 6- 2009.

 

BAN KHUYA

 

Đêm đêm, tôi có niềm vui lặng thầm ban khuya. Ban khuya. Tôi thích được nhìn ngắm trăng sao đang cùng thức trên trời cao xanh. Ban khuya. Tôi thường lang thang qua những con đường thực và ảo giữa trần gian nhiều duyên với nghiệp. Ban khuya. Tôi hay lắng nghe âm thanh diệu vợi thuần khiết từ bốn mùa thiên nhiên đồng nội. Ban khuya. Tôi được tiếp nhận từng làn hương trinh tuyền từ những ngôi vườn đêm tịnh yên. Hương báo hỷ lan. Hương ngọc lan. Hương dạ lý. Hương nguyệt quế... Gió ban khuya thơm nhẹ nhàng, hào hoa một áng mây tình tinh khôi, thanh khí.

 

Và trong cõi tịnh yên tôi nhìn thấy sáng lên ngọn đèn khuya từ ngôi nhà em bình an. Tôi hình dung được bản nhạc em đang nghe từ khuê phòng thiếu nữ. Giai điệu đẹp mượt mà, trang trọng như tính cách tâm hồn em khi em dành cho nghệ thuật. Gương mặt em ửng lên, liêu trai. Đôi mắt long lanh tia nhìn em nhân hậu. Tôi hình dung em đang trò chuyện cùng người thân quen nào đó giữa khuya dài. Mười ngón tay em mềm mại lướt nhanh. Bàn phím ngân lên âm điệu. Thủ thỉ. Thì thầm. Những dòng chữ khiêu vũ trước mắt em thành nhạc, thành lời. Em đang chân thật gửi tiếng lòng mình lên từng con chữ. Người được nhận tiếng lòng em hạnh phúc biết bao! Em dịu dàng, thánh thiện quá!

 

Ban khuya. Tất cả đều trở nên gần gũi lắng sâu. Tôi tự thấy mình thanh thản trong thời điểm dễ thương này. Nguồn yêu quý thảo hoa. Lòng kính trọng thế gian trong sâu thẳm hồn tôi sao trở nên dào dạt. Tôi thả hồn mình bay bổng qua trăm miền đất nước dấu yêu. Tôi phiêu du từ biển khơi bao la xanh trong triều dâng thương tới phố núi cao vời vợi nhớ. Tôi càng thấy mình phải ước mơ, phải khát vọng về một cõi bình yên cho thảy thảy mọi người trên thế gian này!

 

Và với riêng em. Tôi thầm mong: ngọn đèn khuya em đừng vội tắt đi vầng sáng. Tôi biết không chỉ riêng gì tôi đang trân trọng đốm lửa, thanh âm từ ngôi nhà em hạnh phúc. Mà đốm lửa, thanh âm từ ngôi nhà em cũng là niềm hy vọng, là sự chờ đợi của bao người đang dành cho em vô vàn thân ái.

 

Ban khuya. Khoảnh khắc thời gian tôi hằng mong.

 

Ban khuya. Ban khuya...

 

Huế, 23-6-2009.

 

                                         XIN MÁ NỤ CƯỜI

 

Trưa hôm ấy (8- 6- 2009) cùng Thu Phương vừa tới bến xe Hội An là vội sà ngay vào một quán nước ngồi đợi người quen đến đón. Chủ quán là một bà má Hội An rất hiền lành niềm nở đón chúng tôi với nụ cười sáng trưng, khinh khoái. Đúng là phụ nữ Việt Nam mình dù ở bất cứ nơi mô, thời gian nào cũng toát lên sự nhơn hậu, cao quý, đáng thương yêu, trân trọng.

 

Trước khi rời quán tôi nói với má Hội An:

 

 - Con đang muốn xin má một thứ, má cho con không?
- Tui có chi mà cho chú!
- Má có nơi!
- Tui nghèo lắm chú, xin chi nơi tui!
- Má nghèo nhưng má vẫn còn có thứ để cho mà!
- Thôi chú! Tui có có chi!
- Má có nơi!
- Có chi hè! Chú đừng giỡn chi tui!
- Con xin má thiệt đó!
- Chú đi kẻo họ chờ tội.
- Con xin má nụ cười. Má có cho không nè?
- Ủa! Tui tưởng xin chi khác. Nụ cười thì tui có sẵn!
Thế là má Hội An cười. Môi cười rạng rỡ. Môi cười bao dung.
Cảm ơn Thu Phương đã kịp thu hình ảnh nụ cười của má Hội An. Má đất Quảng. Nụ cười má là món quà vô giá.

Mới hay người ta quen xin tiền, xin bạc, xin của cải, xin vật chất... hèn chi người được xin cứ ngỡ...
Ai dè tôi thì chỉ xin má nụ cười!

 

TỪ PHỐ NÚI

 

Phố núi đang đầu mùa mưa. Pleiku lại đón tôi những ngày nắng đẹp. Những tầng mây trắng trên trời cao xanh. Tôi bình yên ngược xuôi lên xuống cùng Lục Thư trên những con đường phố dốc thấp dốc cao. Đôi lúc tôi thầm nghĩ đi đường nơi đây như đong đưa cánh võng. Cảm giác cứ bềnh bồng. Gió ban mai se lạnh. Tối nay tôi phải rời phố núi rồi. Sao lòng cứ bâng khuâng. Có lẽ vì thời gian lưu lại chốn này quá ngắn ngủi trong khi cái tình trong thẳm sâu hồn tôi đang mênh mang. Điều kỳ diệu nào trên miền đất Tây Nguyên chơn chất níu lòng tôi ở lại?  Chiều qua được ngắm nhìn cảnh sắc Biển Hồ tôi đã không khỏi ngẩn ngơ trước một không gian tĩnh lặng mà dạt dào hạnh phúc. Hạnh phúc có thật khi trời đất đã ban tặng cho ta vẻ đẹp thiên nhiên rất vĩnh hằng.

 

Dường như hiểu được tâm trạng luyến lưu, bịn rịn của tôi trước cảnh sắc Tây Nguyên, lặng lẽ, dịu dàng Lục Thư đưa tôi đến viếng thêm một danh thắng khác của Pleiku trước khi tôi phải đành đoạn rời xa phố núi: chùa Minh Thành.

 

Nắng sớm lan tỏa trên từng nóc điện, tháp chùa, cỏ cây hoa lá. Sắc phượng đỏ thắm bên góc sân chùa gợi trong tôi đường phượng nội thành xứ Huế những ngày áo trắng ai đi về một thuở học trò hồn nhiên trinh thơ. Bất chợt, trong tịnh yên mênh mông, Minh Thành chợt ngân lên ngọt ngào chuông gió. Chuông gió Minh Thành được tạo dáng đẹp lắm. Mỗi góc tháp lủng lẳng một chuông gió bằng đồng. Qua lời chuông từng hồi ức, từng hình ảnh đẹp trong đời dần tái hiện trong tâm thức, tình cảm tôi nhẹ nhàng, thuần khiết. Không biết khi ấy Lục Thư nghĩ gì khi nghe chuông gió, nhưng nhìn thấy Lục Thư cũng đang như xuất thần theo âm thanh trong, tôi hiểu tùy theo tâm cảm mỗi người mà thả hồn cùng tiếng gió reo trong lời chuông hay chuông reo trong lời gió.

 

Chưa có duyên vào trong chánh điện chiêm quan bởi hôm nay cửa chánh điện Minh Thành không rộng mở nên tôi đành ghé mắt nhìn qua những khe cửa và phóng tâm mình vào trong ánh sáng lờ mờ với thầm nguyện trở lại Minh Thành cùng Lục Thư khi có thiện duyên. Không nuối tiếc khi chưa được nhìn thấy Phật, không băn khoăn bên trong chánh điện có bao nhiêu tượng Phật, bao nhiêu La Hán bởi tôi biết mình sẽ có lúc quay trở lại Minh Thành.

 

            Không gặp Phật trên điện thờ nhưng tôi lại may mắn gặp Phật, thật nhiều Phật, nhiều La Hán nơi xưởng điêu khắc của chùa Minh Thành. Tôi cung kính sờ lên một tượng Phật để mong được cảm nhận tài hoa tuyệt vời của các nghệ nhân phố núi; mong được chạm lên phần tinh hoa của gỗ mít Tây Nguyên và nói với Lục Thư giá như đừng sơn son thếp vàng lên đó mà để cho gỗ mít bóng ngời cùng thời gian. Khi đã sơn son thếp vàng thì mít cũng chẳng khác nào thạch cao. Lục Thư yên lặng đồng tình.  

 

Đang mùa hạ, những búp sen trắng chùa Minh Thành nở tinh khiết đón nắng, đón mắt nhìn thân ái của tôi và Lục Thư. Bây giờ, tôi tự trách, tiếc mình đã không chụp được hình sen trắng với Lục Thư khi Lục Thư đă từng gắn bó tâm hồn, cuộc sống mình với những đài sen từ thời oanh vũ nơi đây, dưới mái chùa Minh Thành thơm kinh Phật.

 

Chiều nay tôi về Sài Gòn rồi vài hôm nữa tôi ra Huế. Cùng với gió Biển Hồ, chuông gió chùa Minh Thành mãi ngân nga, ngân nga rộn rã, hạnh phúc trong hồn tôi trong suốt những cung đường đất nước yêu thương.

 

Phố núi đang đầu mùa mưa. Phố núi đang mưa…

 

Pleiku, 20- 5- 2009.

 

   DUYÊN THƠ

 

      Bà Anjuska Weil, Chủ tịch Hội Hữu nghị Thụy Sĩ - Việt Nam (Association Suisse - Vietnam) là một người rất yêu thơ. Lần đến Huế này điều mong muốn của bà là có một buổi trò chuyện thơ trên thuyền sông Hương với bạn thơ xứ Huế. Trong không gian tĩnh lặng của đêm, dong chiếc thuyền thơ quả là điều lãng mạn, kỳ thú. Tôi may mắn thành một trong những khách mời của vợ chồng bà. Nhân dịp này bà tặng cho tôi tuyển tập thơ Le temps qui passe và cho biết: “Tôi đã chọn một số bài thơ của những người cao tuổi Huế đưa vào tuyển. Tôi muốn bày tỏ tấm lòng yêu Việt Nam, yêu Huế qua thi ca là một loại hình nghệ thuật mà tôi luôn trân trọng”.

 

            Lâu không lênh đênh sông Hương, nay lại được sống trong không khí thơ với người nước ngoài yêu thơ, tôi tự cho mình là người may mắn. Duyên thơ là một mạch ngầm tiềm ẩn trong nhiều năm tháng. Không yêu quý thơ, không trọng thị thơ, không chí cốt tâm thành với thơ thì làm chi có duyên thơ. Trước tấm lòng yêu thơ, đồng điệu của khách, tôi đã không ngần ngại diễn ngâm một số bài thơ in trong tuyển Le temps qui passe. Qua hình thức trình bày này tôi muốn giới thiệu với khách thế mạnh của thơ lục bát Việt Nam trong âm nhạc. Thơ lục bát Việt Nam đã có hàng ngàn điệu lý, có thể diễn ngâm, có thể hò rất nhiều làn điệu (hò mái nhì, hò ru con, hò giã gạo, hò ô, hò đối đáp, hò nện...), có thể nói vè, hát chầu văn... 

 

Trò chuyện thơ trên thuyền sông Hương đã thành một thú chơi thuần khiết, tao nhã. Thiên nhiên Huế và người như hóa thân trong cảnh với tình. Lại thêm khi đang đàm đạo về thơ thì tiếng ca từ các khoang thuyền ca Huế văng vẳng dư âm như thể làm nền cho cuộc thơ, khiến khách thơ càng dạt dào thi hứng.

 

Và dường như duyên sông Hương còn vương víu sợi tình nên tối 25- 4- 2009 khi vừa rời thuyền thơ của bà Ạnjuska Weil, Chủ tịch Hội Hữu nghị Thụy Sĩ - Việt Nam (Association Suisse - Vietnam) là tôi sang thuyền ca Huế đón đoàn khách Mỹ thuộc tổ chức D.O.V.E. (Development of Vietnam Endeavors). Theo lời một thành viên của D.O.V.E. thì trong hai năm trở lại đây D.O.V.E. đã tặng cho Việt Nam 42 trường mẫu giáo, mầm non, tiểu học... Chuyến đi về miền Trung lần này của D.O.V.E. là để tặng 2 trường mầm non cho Quảng Trị và 2 cho Thừa Thiên Huế. Hai ngày lưu lại Huế đoàn muốn thưởng thức ca Huế, nghe ngâm thơ Huế trên thuyền sông Hương. Và hôm nay đoàn khách Mỹ rất vui khi được biết chương trình ca Huế tối nay có một số nghệ sĩ đã từng sang Mỹ biểu diễn trong năm 1995 như Lệ Hoa, Sĩ Thoại... 

 

Duyên thơ đã níu tình nhau đêm sông Hương...

 

Huế, 26-4-2009.

 

ANH GIÚP ĐỜI! ĐỜI, AI GIÚP ANH!

 

Mỗi lần về thành phố Cần Thơ, người tôi thường gọi điện thoại đầu tiên là nhà thơ, nhà báo Tôn Thất Lang. Duyên văn nghệ tri âm, tri kỷ, tình đồng hương, đồng điệu đã gắn kết anh và tôi qua nhiều năm tháng. Tôi không biết vì lẽ gì mà anh Tôn Thất Lang từ Huế phiêu bạt vào miền Tây đất nước sống, gắn bó với xứ sở phù sa để từ đó anh được nhà văn Hoài Phương viết trên báo Tuổi trẻ về anh là "Nhà báo của những người bất hạnh”.

 

     Theo Hoài Phương thì trên mười năm đến với văn chương báo chí, một trong những việc làm tâm huyết của anh Tôn Thất Lang là “ngày nào anh cũng lặn lội khắp vùng sâu, vùng xa săn tìm địa chỉ của những mảnh đời bất hạnh để chia sẻ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho họ hòa nhập cuộc sống cộng đồng bằng chính những bài viết trên nhiều tờ báo có uy tín trên cả nước. Anh thường đi sâu vào các mảng đề tài văn hóa - xã hội nên thường xuyên tìm đến những gia đình người khuyết tật, đến từng trại dưỡng lão và những mái ấm tình thương để động viên, an ủi và làm nhịp cầu nối giữa những người nghèo khổ với những nhà thiện nguyện. Và nhờ nhiều bài viết về những đứa trẻ bị nhiễm chất độc da cam; những phụ nữ tật nguyền, những anh thương binh tàn nhưng không phế; những cụ già cô đơn không nơi nương tựa và những em bé mồ côi tự bươn chải kiếm sống... của anh mà nhiều cơ quan từ thiện và các nhà hảo tâm đã tìm đến giúp đỡ, bảo trợ và tạo cơ hội cho nhiều gia đình vượt lên số phận, xây dựng được mái ấm tình thương. Thậm chí sau bài viết, tòa soạn lại nhờ anh mang tiền đến tận nhà giao cho gia đình những người nghèo, vậy là anh phải bỏ tiền túi lặn lội cả ngày đường trở lại trao những phần quà, tiền giúp đỡ của bạn đọc gần xa.”

 

     Anh giúp đời, vì người là vậy. Những bài báo viết về những số phận bất hạnh của Tôn Thất Lang đã từng đoạt giải của báo Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ... đã được in thành sách với tựa đề “Những mảnh đời - những tấm lòng”. Một vài lần tôi đã từng theo anh tìm về những địa chỉ buồn và từ ấy hiểu sâu hơn công việc lặng thầm của anh. Tôi quý thương anh. Tin cậy và trân trọng!

 

     Vừa qua, tháng 3- 2009 về lại Cần Thơ tìm thăm anh Tôn Thất Lang nơi Bình Thủy. Tôi ngỡ ngàng, nhói lòng khi chứng kiến cảnh người con gái anh là Tôn Nữ Thị Minh ngồi trên chiếc xe lăn. Gương mặt Minh tái nhơt. Đôi mắt Minh thất thần, vô hồn. Tôi hỏi thăm tình hình, anh Tôn Thất Lang cho biết Minh năm nay 35 tuổi, đã lập gia đình với Trầm Hoàng Lộc năm nay 45 tuổi, hai vợ chồng có một con gái là  Trầm Nguyễn Nhi, 9 tuổi. Sau khi Minh bị tai biến nặng thì cả nhà vợ chồng Minh về ở chung nhà vợ chồng anh. Chồng Minh đang làm việc cho một công ty cũng phải bỏ ngang việc để có thời gian chăm sóc vợ. Việc mưu sinh vì thế cũng bế tắc. Chuyện kể đơn giản là vậy nhưng tôi hiểu đằng sau chiếc xe lăn và gương mặt đáng thương yêu kia của Minh, con gái anh là biết bao nhiêu khê, hệ lụy; là bộn bề trăm nỗi lo toan, khó khăn, thiếu trước, hụt sau. Người vợ hiền của anh Tôn Thất Lang, tôi tưởng đã thôi không còn ngồi bên chiếc bàn máy may vì tuổi đã lớn, sức khỏe yếu rồi. Nhưng chị vẫn ngồi đó lặng lẽ bên cái máy may cố cựu, cần mẫn đơm, khâu, may vá, sửa áo quần cũ cho thiên hạ, cho những những gia đình nghèo khó và anh Tôn Thất Lang là người lặng lẽ đi giao hàng mỗi sớm mai. Miếng ăn cho cả nhà. Thuốc thang cho con gái đang bệnh hiểm nghèo... Chỉ nghĩ tới chừng đó thôi, tôi đã hình dung ra biết bao nỗi nhọc nhằn, cực khổ mà vợ chồng anh Tôn Thất Lang phải hứng chịu thuở về chiều.

 

Tôi biết giờ đây, dù hoàn cảnh gia đình đang tột cùng khó khăn là vậy nhưng anh Tôn Thất Lang vẫn còn tiếp tục viết về những mảnh đời bất hạnh. Chịu khó, chịu thương trong từng khoảnh khắc, anh vẫn đang bền chí mang tin xuân cho từng số phận buồn. Hiện nay anh là còn là ngòi bút chủ lực cho chuyên mục Những mảnh đời - Những tấm lòng Vàng của Website vannghesongcuulong.org.vn vừa mới được mở vào đầu tháng 4- 2009.

 

Viết đến đây. Xốn xang.  Tôi tự hỏi: Anh giúp đời. Đời, ai giúp anh? Tôn Thất Lang!

 

Huế, 24-4-2009.

 

 

 

                                MỪNG GẶP NGƯỜI KINH BẮC

 

Bền bỉ theo thời gian là cái duyên văn nghệ. Có những điều tưởng chừng như đã bị vùi lấp lãng quên theo tháng năm nhưng khi được đánh thức thì ngọn lửa ngầm kia lại bùng lên thành đốm sáng tâm hồn. Cách nay đã 19 năm (1990), các nghệ sĩ Quan họ Khánh Hạ, Lệ Ngãi, Lệ Thúy, Ba Trọng... lần đầu tiên đến Huế biểu diễn dân ca Quan họ giao lưu cùng các loại hình âm nhạc cổ truyền Huế đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp về nghệ thuật cùng con người Kinh Bắc.

 

        Hôm nay từ Sài Gòn về Huế tôi lại gặp một trong những người quan họ năm xưa: nghệ sĩ Khánh Hạ. Bây giờ Khánh Hạ đã được nhà nước phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú rồi. Khánh Hạ không về Huế một mình, Khánh Hạ đi cùng đoàn Chi hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tỉnh Bắc Ninh do nghệ sĩ Nguyễn Hữu Luận, nguyên Trưởng đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh dẫn đầu. Đoàn gồm nhiều nghệ sĩ tài danh của các loại hình tuồng, chèo, dân ca quan họ như Xuân Tú, Thanh Vân, Công Hoan (nghệ thuật Tuồng) Thúy Tình, Ngọc Doãn (nghệ thuật Chèo) Nghệ sĩ ưu tú Khánh Hạ (dân ca Quan họ Bắc Ninh)... cùng các soạn giả, diễn viên khác.

 

            Mười mấy năm không gặp nên khi nghe Khánh Hạ gọi điện thoại thông tin về đoàn là tôi vội vã tìm thăm. Khi gặp nhau, tất nhiên hồi ức một thời xa xưa được tái hiện với đậm đà thi vị. Đêm ấy sông Hương mưa, những ngọn hoa đăng mỏng manh chợt hắt hiu đốm sáng. Giọng ca Quan họ, cung đàn Huế hòa thanh chung nhịp tình đất nước quê hương. Nghệ thuật đã níu hồn nhau, nối duyên nhau từ ấy... Thế mà đã gần hai mươi năm!

 

     Vốn sống lâu trong môi trường văn học nghệ thuật, lại luôn biết trân trọng những tấm lòng yêu Huế đến thăm Huế nên tôi đã cố gắng thể hiện nhiệt tình của một người con xứ Huế với các nghệ sĩ sân khấu Bắc Ninh. Trong bữa cơm chiều thân mật, nâng ly rượu làng Vân của đoàn nghệ sĩ Kinh Bắc, tôi hát tương tư khúc tặng đoàn bài Tửu hứng ca do tôi soạn lời. Nào! Cạn nào tri âm! Vui đời xuân. Câu ca tình tự lâng lâng. Tình sâu nặng càng thêm đẹp. Làm đẹp tình nhau, đẹp tới ngàn sau. Say đi!  Nào cạn tình nhau! Bay lên trời cao, giục vầng trăng soi sáng tinh cầu! Tương tư khúc rồi hò mái nhì chuyển sang điệu Nam bình ngợi ca Huyền Trân công chúa. Người Huế biết ơn nàng mà có Huế nên đã mời nàng sống mãi trong lời ca nước non ngàn dặm ra đi cái tình chi mượn màu son phấn... Tôi mong gởi tiếng lòng tôi cho những tâm hồn đồng điệu.

 

            Đáp lại giọng ca nghiệp dư của tôi là cả một không khí nghệ thuật sân khấu tuyệt vời với giọng chèo thanh thoát, lắng sâu của nghệ sĩ Thúy Tình. Thúy Tình đã xuất thần trong các làn điệu đẹp, trong uyển chuyển mềm mại vũ đạo chèo. Nghệ sĩ Thanh Vân, Xuân Tú Công Doãn cũng hứng tình như nhiên bằng một lớp tuồng xưa hào khí. Rồi tôi lại Lý mười thương Huế cùng Khánh Hạ Mười nhớ Bắc Ninh.... Đã lâu lắm rồi tôi mới được tìm thấy lại một không khí rất điệu nghệ, rất đam mê, rất nhiệt tâm của những con người trọn một đời hiến mình cho nghệ thuật sân khấu truyền thống. Đêm nay, không sàn diễn, không phông màn, không dàn nhạc, không máy móc âm thanh, ánh sáng... nhưng tất cả đều sống động, linh hoạt, mượt mà, uyển chuyển như trên sân khấu thật. Tôi đang may mắn, tôi đang hạnh phúc khi đắm hồn trong những giai điệu từ phương Bắc. Xúc động, tâm thành tôi thấy mình như bay lên, bay lên giục vầng trăng soi sáng tinh cầu...

 

Huế, 21-4-2009.

 

LAI VUNG RỒI CHỢ LÁCH TÔI VỀ

 

Trong lần về miền Tây này tôi có một tâm nguyện: Trở lại Cái Dứa, huyện Lai Vung thuộc tỉnh Đồng Tháp thăm quê vợ của người em trai (Võ Vui) đã mất tại Mỹ cách nay đã năm năm. Qua phà Cần Thơ là tôi bắt xe ôm về Cái Dứa. Nhớ lại những năm về trước khi qua thăm gia đình Vui ở Cái Dứa thì phải về Ô Môn đi đò máy ngắm mênh mông Cửu Long dạt dào sóng nước phù sa. Bây giờ đường về Cái Dứa đã phẳng phiu rộng rãi. Cầu Cái Dứa không còn là nhịp cầu gỗ chênh vênh trên dòng kênh. Lòng mừng thầm Cái Dứa đã hết thành vùng sâu, vùng xa đìu hiu như một thuở tôi về tìm tông tích người em phiêu dạt. Lần này, nhận ra nhau những bà con thân quen Cái Dứa tay bắt mặt mừng. Người già, người trẻ hân hoan chung niềm vui hội ngộ. Vượt hàng ngàn cây số về nơi chốn đã từng đùm bọc nuôi dưỡng em trai là một hạnh phúc lớn trong tôi. Xin được ngàn vạn lần biết ơn người đồng bằng đã góp phần chắt chiu bóng Huế. Giá như em trai Vui khi biết tôi về thăm Cái Dứa có lẽ em cũng mỉm cười thương yêu. Dẫu em đã vĩnh viễn không còn trên thế gian này nhưng anh vẫn tìm về vùng đất phóng khoáng, nhân hậu một thời em gắn bó buồn vui. (Rất tiếc những tấm hình chụp với các má, các chú và bà con cô bác Cái Dứa đã gặp sự cố dọc đường nên không có trên trang viết hôm nay. Xin thầm hẹn thêm một lần về lại!).

 

Tiếp tục bám eo người xe ôm tên Hóa, từ Lai Vung tôi trực chỉ Vĩnh Long, thành phố tôi đã từng có những đêm thức trắng cùng nhiều văn nghệ sĩ Cửu Long như anh Ba Kiệt, nhạc sĩ Trúc Phương, như các nhà thơ, nhà văn Lê Trung Hiệp (Nguyễn Bạch Dương), Trúc Phương, Song Hảo, Văn Quốc Thanh, Phan Phúc Bình, Thái Hồng... để hôm nay đang trở thành những kỷ niệm đẹp, hào hoa. Nhìn Song Hảo ban trưa nắng nôi từ An Bình qua Hội Văn nghệ Vĩnh Long đón tôi, tôi thật ái ngại và thấy thương Song Hảo chi lạ rứa! Cái tình văn nghệ vốn là “cái tình chi...” da diết thanh minh, thuần khiết trong xanh. Thế là một cuộc lên chương trình chớp nhoáng được hình thành. Nơi đầu tiên đến là Chợ Lách, Bến Tre, chốn tiếp theo là cầu Rạch Miễu, Tiền Giang. Tháng 8- 2009 tôi đã từng cùng văn nghệ sĩ Huế từ phà Rạch Miễu xuôi về phà Đình Khao, nay tôi lại ngược từ Đình Khao lên cầu Rạch Miễu. Thì ra tôi đang được mùa đi giữa vườn xanh.

 

Tới Chợ Lách, gặp lại Nga sau bảy năm xa tôi đã không giấu được bồi hồi, xúc động. Nga cười thật tươi: Sao mà anh Quê ôm Nga chặt vậy ta! Tôi bẽn lẽn: Lâu quá trời mà! Năm 2002 Song Hảo, Thái Hồng đã đưa tôi qua Chợ Lách thăm Nga. Chợ Lách đang mở hội thi trái cây lần thứ nhất. Xem hội thi xong thì chúng tôi được Nga mời thăm vườn Nga. Vườn Nga bát ngát xanh cây lá. Đang mùa sầu riêng. Vườn Nga mơn mởn nắng. Nga khoe ngoài những cây trái Việt Nam, vườn Nga còn có nhiều giống cây Thái Lan. Tôi buột miệng: Nga Thái Lan! Từ ấy tên Nga Thái Lan thân quen trong một nhóm bạn bè Vĩnh Long. Không ai bảo ai mà trong điện thoại di động của tôi và Văn Quốc Thanh đều ghi danh Nga Thái Lan. Bữa cơm tái ngộ tại Đào Viên Quán còn có thêm họa sĩ Đặng Can, người bạn thời học trò của Nga Thái Lan trên đất Vĩnh Long. Tôi nhắc chuyện tôi đã viết bài thơ Giữa vườn xanh sau chuyến về Chợ Lách năm 2002 rồi nói với Nga: Hình ảnh giỏi giang, đảm đang, chịu thương chịu khó của Nga đậm nét trong hai câu cuối của bài thơ Giữa vườn xanh:

 

Em đưa anh qua những vườn xanh

 

Nắng óng ánh nắng xuyên cành lá

 

Chôm chôm đỏ lung linh sắc lửa

 

Những ngọn đèn thiên nhiên

 

 

 

Em mời anh hương vị sầu riêng

 

Trang thơ yêu ươm vàng múi nhớ

 

Có phải từng cuộc tình một thuở

 

Gặp nhau trong trái sầu riêng

 

 

 

Gió bao dung em tóc rối sợi mềm

 

Tiếng chim hót gọi chiều xuống chậm

 

Sợ tan biến phút giây đằm thắm

 

Ngại mặt trời sớm khuất – hoàng hôn

 

 

 

Lời em ca hòa quyện hương vườn

 

Điều nhơn ngãi đơm mầm lộc biếc

 

Giọng Nam Bộ trữ tình da diết

 

Nghe mặn mà thanh sắc giáng châu

 

 

 

Anh tặng em khúc tương tư sầu

 

Em đừng trách cái buồn trong câu hát

 

Buồn là nhớ là trông người ươm hạt

 

Niềm vui thường qua mau.

 

 

 

Vườn em xanh cây trái ngọt ngào

 

Anh thầm hẹn một ngày về Chợ Lách

 

Em cần mẫn con ong hiền luyện mật

 

          Đất và người hèn chi cứ duyên nhau.

 

Chợ Lách, Bến Tre, 8- 6- 2002

 

Năm sau (2003), Nga Thái Lan điện thoại nhắc tôi: Sầu riêng chín rồi sao không thấy anh về? Tôi không về Chợ Lách được trong thời điểm ấy. Tôi xin Nga Thái Lan cho tôi về Chợ Lách trong mùa sầu riêng chín bằng bài thơ Sầu riêng:

 

Sầu riêng đang mùa chín tới

 

Sao anh không về bên em

 

Vườn xưa?

 

Giọng nói sầu tình

 

Anh nghe ngẩn ngơ

 

Hương sầu riêng thơm lên câu hỏi

 

Biết khi mô về cùng em

 

Đường xa ngái

 

Hèn chi mình không gặp nhau!

 

 

 

Em bảo niềm vui thường qua mau

 

Cái buồn thì ở lại

 

Em tảo tần

 

Cánh vạc trắng bên trời

 

Áo bay gió nội

 

Mưa nắng miệt vườn

 

Ướp lên cây trái

 

Thơm tình yêu lứa đôi

 

 

 

Sầu riêng đang mùa chín tới

 

Một mình em

 

Một con trăng non

 

Âm thầm tiếng lá rớt

 

Âm thầm mầm lộc đơm

 

Sầu riêng đang mùa chín tới

 

Câu hỏi thơm

 

Vương hương sầu riêng.

 

Huế, 4- 2003

 

            Năm nay tôi về, lời hẹn xưa đã viên thành. Chợ Lách lại đang mùa sầu riêng. Chuyện gặp gỡ đầu tiên tinh khôi bảy năm về trước tái hiện trong màu vàng tươi và hương sầu riêng Thái Hồng mang tới cho mọi người cùng thưởng thức. Chuyện nay chuyện cũ lại râm ran theo từng trang hồi ức. Tình văn nghệ, tình thơ đã mở ra từng trang mới. Luôn luôn mới. Luôn luôn đẹp. Luôn luôn chân thành, trang trọng. Nắng chiều Chợ Lách mật ong hay hổ phách cứ lung linh xuyên trong từng kẽ lá. Dường như nắng cũng gợi tình. Nắng u hoài!

 

            Không thể lưu Chợ Lách lâu hơn dù lòng đang muốn ở, các văn hữu Song Hảo, Văn Quốc Thanh, Thái Hồng và tôi quyến luyến, bịn rịn từ giã Nga để về hướng cầu Rạch Miễu. Tôi nói vui với Nga: Chiều mai trên đường trở lại Vĩnh Long anh em mình còn gặp nhau. Nga Thái Lan!

 

Chợ Lách đang mùa sầu riêng...

 

 Huế, 19-4-2009.

 

TÌNH BLOG

 

Từ nơi mà người ta thường gọi là thế giới ảo, thế giới phẳng tôi đã tìm thấy không gian thật, tình cảm thật, đời sống thật… trong mỗi ngày qua. Bằng hữu đã đông vui hơn, gắn bó hơn trong mỗi lần gặp gỡ. Huế, Hà Nội, Sài Gòn… cùng nhiều nơi chốn tôi qua. Từ những trang blog họ bước ra đời thật như tôi đã từng hình dung họ bước ra cõi sống thường nhật từ cổ tích. Tôi đã được trò chuyện, được lắng nghe, được rong chơi, được hát ca… đúng là được rất nhiều.

 

Như 9-3-2009, tôi bất ngờ được những blogger Sài Gòn thực hiện một cuộc mừng sinh nhật đầu tiên của đời mình trên đất phương Nam hào phóng. Đã là ngày 9-3, không đúng là ngày 7-3 nhưng Chinhnguyen, Phố Núi Cao, Hiep Tran, bé Nguyên đã bắt thời gian ngừng lại trên chiếc bánh sinh nhật ngọt ngào tình. Chinhnguyen còn tế nhị hơn khi cho dòng chữ mừng ngày 9- 3 với hàm ý kết hợp mừng ngày 8-3 muộn.

 

Chiều Sài Gòn, cà phê Thủy Trúc với ngọn gió phóng khoáng cũng đã kịp dịu nhẹ vài giây để Chinhnguyen châm hồng ngọn nến. Hai bàn tay bé Nguyên thành búp sen che. Nến đã cháy hồng. Lung linh nguồn đồng điệu. Cảm ơn Phố Núi Cao đã kịp thu những hình ảnh dễ thương kia vào ống kính. Khoảnh khắc kỳ diệu ấy sẽ thành bất biến theo tháng năm khi chúng ta còn tin cậy, thương yêu...

 

Trong phút chốc, tôi thành trẻ thơ. Tôi không còn là người đã sống qua hơn một vòng hoa giáp. Tôi luống cuống, vụng về. Tôi khó khăn khi chỉ thổi tắt một trong hai ngọn nến. Hơi thở tôi yếu rồi chăng hay ngọn nến hồng còn lại là của những người tôi hằng yêu mến? Để dành cho suối nguồn yêu thương lấp lánh xuân. Qua ánh lửa tôi chợt nghĩ thầm: Tình blog!

 

            Bẵng đi một thời gian tôi không còn dịp nào gặp lại các blogger Phố Núi Cao, Chinhnguyen, Hiep Tran, bé Nguyên... nhưng thỉnh thoảng lại tìm thăm nhau qua làn sóng. Không gian cũng níu lại về gần trong từng con chữ nhỏ thương yêu. Sau một tuần nhờ các bác sĩ nhãn khoa Sài Gòn chỉnh trang "cửa sổ tâm hồn", tôi và Tiểu Kiều về Cần Thơ thăm các chị, em của Tiểu Kiều đang làm ăn sinh sống tại đây. Trong khi Tiểu Kiều đoàn viên hội ngộ với người thân ở Cần Thơ thì tôi lại được anh chị em văn nghệ sĩ miền Tây đưa đi về xứ sở miệt vườn cây trái tươi mươi với sông nước phù sa phóng khoáng gió đồng bằng. Chỉ chưa đầy một tuần mà tôi đã có dịp đặt chân lên Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang rồi Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Tình người, tình đất chứa chan những nơi chốn tôi về đã ban tặng cho tâm hồn và tri thức tôi nhiều thứ vô cùng quý báu. Miền đất Nam Bộ với tôi vẫn còn đó những tiềm ẩn vô giá mà còn lâu hoặc không bao giờ tôi hiểu được ngọn nguồn.

 

Ngày 12- 4- 2009, rời Cần Thơ tôi và Tiểu Kiều trở lại Sài Gòn. Chiều 14- 4- 2009 các blogger Phố Núi Cao, Chinhnguyen, Hiep Tran và tôi lại gặp nhau nơi cà phê Thủy Trúc, tiếc là thiếu bé Nguyên. Sáng mai tôi lại về với Huế dấu yêu rồi. Tình cờ mà ba người đến trước Hiep Tran đều chung một sắc áo xanh.

 

Chinhnguyen thông tin chiều nay cà phê xong mọi người được mời đi thưởng thức mì Hàn Quốc ở đường Phan Đăng Lưu quận Phú Nhuận nên ai cũng háo hức muốn tìm hương vị mới. Chỉ tiếc Phố Núi Cao người không được khỏe, mệt, than đau đầu nên đã rú xe một mạch về nhà, tội nghiệp cho ba người còn lại cố chạy theo mà không kịp. Có lẽ vì quá chí thú với món mì, cơm chiên Hàn Quốc mà đến khi trên bàn chỉ còn lại sự "trống trơn lạnh lùng" tôi mới nhớ là mình chưa chụp hình các món ăn của đất nước Kim Chi. Nhưng như thế cũng hay, các bạn nào chưa thấy hình các loại mì Hàn Quốc, chưa thưởng thức thì càng nên đến đây một trận. Hồi sau sẽ rõ!

 

Mai tôi về Huế, chắc chắn tình blogger sẽ về theo đằm thắm, dịu dàng. Những nụ cười không tắt. Những câu chào không buồn. Những ánh mắt sáng lên "tâm hồn ăn uống". Các món bánh Huế, bún Huế, cơm Huế, bánh canh Huế, chè Huế... đang chờ tôi ngoài nớ. Và không phải chỉ chờ riêng mình tôi mô hí! Các anh chị em blogger bốn phương trời biển cũng đang có Huế chờ...

 

16-9-2009.

 

MÙA XUÂN “CHẾT” Ở SÀI GÒN!

 

Cả nhà đang xem chương trình thời sự VTV buổi tối thứ hai (16- 2), Ca Dao nhận điện thoại của người nào đó rồi la lên: Bạn con ở Tuổi trẻ Online điện nói nghe tin ba Ca Dao chết vì tai nạn phải không? Cả nhà chưng hửng. Chi kỳ cục vậy trời!  Một lát sau Ca Dao lại nhận điện thoại. Chị Bình vợ nhà thơ Mường Mán ở Quán Ruốc điện nói với Ca Dao dưới CầnThơ hỏi tin ba thế nào? Tôi phỏng đoán chắc có chuyện nhầm lẫn gì đây về một tên Quê nào đó. Bây giờ cũng có nhiều người tên Quê. Có một lần ngoài Huế, buổi sáng khi đi làm ở trường Đại học Sư phạm Huế có người đến hỏi Tiểu Kiều: Chị đã tìm ra đứa con tâm thần của chị chưa? Kiều đang ngạc nhiên thì người ấy nói đêm qua HTV thông báo con của ông Võ Quê bị tâm thần đi lạc. Vậy là Võ Quê ni khác rồi. Xin lỗi chị!

 

Tôi cầm điện thoại của mình đang nằm ở góc phòng lên. Có hai ba cuộc gọi nhỡ, trong đó có cuộc gọi của Tôn Thất Lang tại Cần Thơ. Tôi gọi và Tôn Thất Lang cho biết có một ông Cứ hưu trí nào đó ở Bình Thủy Cần Thơ điện thoại cho Nhật Lệ cũng ở Bình Thủy thông tin mới đọc trên một tờ báo nào đó đăng tin Võ Quê qua đời vì tai biến. Nhật Lệ điện thoại cho mình và mình đã điện cho Võ Quê mấy lần để kiểm tra thông tin mà không được. Bây giờ ông điện thoại cho chị Trần Thị Linh Chi biết kẻo nãy giờ hai ông bà ấy nghe tin Võ Quê chết thì cứ bồn chồn không yên. Tôi vừa định điện thoại cho chị Trần Thị Linh Chi thì đã nhận được điện của anh Nguyễn Sĩ Cẩm chồng chị: Võ Quê đó hả? Vậy mà có thông tin Võ Quê chết. Làm răng có chuyện ấy được. Vợ chồng mình mới cùng Võ Quê ăn cơm Quán Ruốc cách nay mấy hôm mà. Rứa là Võ Quê trường thọ nghe! Thôi chúc mừng! Sống lâu rồi đó hí!

 

Tưởng ngang đây là hạ màn “cái chết” của Võ Quê, nào ngờ sau đó là dồn dập điện thoại của nhà thơ cùng làng Chuồn Từ Hoài Tấn, nhà thơ Nguyễn Miên Thảo, nhà báo Trần Hoàng Nhân… ở Sài Gòn. Rồi từ Huế của họa sĩ Đặng Mậu Tựu, Chủ tịch hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, của nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phó Tổng biên tập phụ trách Tạp chí Sông Hương… Người thì nghe chết vì tai nạn, người thì nghe chết vì đột quỵ… Thông tin về “cái chết” của Võ Quê rất phong phú nội dung, nguyên nhân chết và thông tin nhanh thật. Rộng thật. Đúng là thời của điện tử. Chưa hết, sáng hôm sau lại từ Huế của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nhà thơ Hải Trung… điện thoại vào xác minh “cái chết” của Võ Quê vì sáng nay thông tin tiếp tục ra tới Huế.

 

Tất nhiên ai cũng vui và chúc mừng Võ Quê còn sống để nghe điện thoại của các bạn bè thân hữu, quả quyết mình còn sống và cái chết kia chỉ là tin vịt. Chưa mồng một tháng Tư mà đã Cá Tháng Tư. Tôi tưởng tượng, một mai khi mình qua đời thật thì chắc chắn cũng có những cuộc gọi nhiệt tâm, chí thành, tiếc thương như thế về sự ra đi vĩnh viễn của mình. Dầu sao với “cái chết” lần này giữa mùa xuân Sài Sòn cũng cho tôi hiểu được tấm lòng bằng hữu gần xa, cho tôi thưởng thức được những lời sanh điếu. Nói như Ưng Bình Thúc Giạ Thị khi chết rồi thì làm sao mà nghe được lời ai điếu. Những lời sanh điếu tuy ngắn ngủi và chỉ gởi qua làn sóng điện thoại thôi nhưng cũng chứa chan sâu lắng, cao đẹp của tình thi hữu, đáng trân trọng của tính văn thần.

 

Tự nhiên lòng vui, tôi thầm nhủ: Chết một lần để sống!

 

Sài Gòn, 19-2-2009.

 

HUẾ SANG THU

 

Âm thầm. Lặng lẽ. Mùa thu phát tín hiệu bằng ngọn gió se lạnh ban mai. Bằng sắc trời chiều xám mây. Bằng hương nguyệt quế dịu nhẹ trong từng ngôi vườn Huế trăng non lung linh cành giáng châu. Hình ảnh học trò trở lại những ngôi trường thân yêu cũng là tín hiệu mùa thu.

 

Huế sang thu. Thu thường gợi trong tôi từng giây phút cảm hoài về những người thân yêu đang vắng mặt, cách ngăn. Là mẹ hiền trên chín mươi bao tháng năm rồi với các em trên xa ngái Dak Nong. Là Ca Dao từ lâu một mình một thân chốn phù hoa đô hội Sài Gòn. Là Sao Khuê độc hành viễn du nơi phương trời Áo. Là bằng hữu thâm giao mười phương mất còn bao tháng năm biền biệt. Là bạn bè nam nữ mới kết giao đồng điệu nòi tình. Lớn lên rồi ai cũng mỗi người mỗi hướng. Ai cũng có những cuộc chia ly nụ cười hay nước mắt. Những ngã ba đường lớn nhỏ, những vàm sông đục trong đã đưa ta vào mê lộ cuộc đời. Đôi lúc ta khó tìm một định vị bình an tâm thức.

 

Thu về với Huế. Tôi thèm được lang thang trong khuya với Huế. Lâu lắm rồi tôi thiếu những đêm một mình qua các ngả đường khuya. Cột đèn vàng lắt lay bóng lá. Đêm Huế hiền lành cánh tay người mẹ. Đưa tôi về là một áng trăng chênh. Lâu lắm rồi tôi không còn cái cảnh đêm đêm lặng lẽ trở về. Đường chợt dài theo khuya, lá rớt. Nỗi cô đơn trên hồn tôi choáng ngợp. Chiếc bóng mình nghiêng ngửa mặt đường khuya... Đêm Huế mùa thu bình yên trong ký ức, trong bồi hồi cảm xúc nao lòng. Đêm Huế mùa thu dễ xui khiến mình sống nhân ái hơn, sống đẹp hơn, có nghĩa, có tình.

 

Và em, người thơ của tôi! Tôi hình dung em cũng đang theo mùa thu về trong phương trời Huế đằm thắm, dịu dàng. Em là sắc thanh hương giữa không gian trầm lắng Huế. Em hóa thân thảo hoa. Em hiện hình kỳ ảo. Cùng mùa thu em nuôi dưỡng ngọn nguồn yêu thương, sáng tạo trong tôi. Biết ơn mùa thu. Biết ơn em. Những dòng chữ ngân lên tiếng nhạc. Mùa thu và em đang thì thầm cùng tôi: Ta trân trọng đời nhau!

 

Huế, 26-8-2008.

 

 

 

CA TRÙ CA HUẾ GẶP NHAU TRÊN CHIẾU SÔNG HƯƠNG

 

     Nhân dịp bộ phận làm chương trình "Việt Nam vẻ đẹp tiềm ẩn" của Đài Truyền hình Việt Nam gồm các biên kịch, đạo diễn Phạm Xuân Quỳnh, Trịnh Quang Tùng, Trần Ngọc Linh, Thu Hoài vào làm phim giới thiệu Nghệ nhân Dân gian Việt Nam Trần Kích và nhã nhạc cung đình triều Nguyễn, Nghệ nhân Dân gian Việt Nam Minh Mẫn, nghệ nhân Thanh Hương, nghệ sĩ Thanh Tâm với nghệ thuật ca Huế, lần đầu tiên trong cuộc đời gắn bó, bềnh bồng với thuyền ca tôi đã may mắn dự một đêm giao lưu kỳ thú giữa loại hình âm nhạc cổ truyền ca Trù và ca Huế trên chiếu sông Hương.

 

     Dưới ánh sáng của vầng trăng muộn trữ tình, thơ mộng, trong nền hoa đăng lung linh sóng sánh mạn thuyền, trên chiếu sông Hương đã diễn ra một cuộc giao lưu kỳ thú giữa ca Huế với ca Trù Hà Nội. Một cuộc tình cờ không hẹn trước thành đêm của đồng cảm, đêm của mặc khách, tao nhân. Giữa không gian tĩnh lặng với gió mát trăng thanh, các giai điệu âm nhạc cổ tuyền của hai thành phố kết nghĩa Hà Nội -Huế được đan quyện, hòa thanh trong mạch tình non nước.

 

     Mở đầu cho "đêm ca tri âm", nghệ sĩ Thanh Tâm đã ca bài cổ bản Dan díu chi trần lụy của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải sáng tác vào năm 1921. Bài ca làm gợi nhớ một thời các nghệ sĩ nghệ nhân Huế đem điệu đàn, lời ca Huế đến các xóm Bình Khang trên đất Bắc, đến với phố Khâm Thiên vào những năm đầu thập kỷ 20 của thế kỷ vừa qua. Và hai nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu từ đó cũng soạn nhiều lời ca Huế qua các làn điệu  Cổ bản, Nam ai, Nam bình, Tứ đại cảnh, Hành vân... như nhà thơ Xuân Diệu đã viết trong tập sách Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1984: "Á Nam cũng như Tản Đà đã gặp một miếng đất phóng túng để cho mình lãng mạnkhi viết những lời ca Huế."

 

            Từ ca Huế với làn điệu Cổ bản Dan díu chi trần lụy của Á Nam Trần Tuấn Khải chuyển sang Gởi gió, bài hát nói của Tản Đà qua giọng ca truyền cảm của nghệ sĩ Bạch Dương - một truyền nhân của bà nghệ nhân ca trù tài danh Phó Thị Kim Đức - người đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 1993 - là một chuyển mạch rất vi tế, nhuần nhuyễn, thú vị. Hai bài ca trên đã tạo cho tôi có một cảm giác là hai bậc tiền bối Á Nam, Tản Đà như đang cùng ngồi trên vuông chiếu sông Hương đêm nay thưởng thức các giọng ca vàng hậu bối thể hiện những lời ca do chính mình sáng tác thời xa xưa.

 

            Nếu giọng của Nghệ sĩ Thanh Tâm được nhà báo Lưu Trọng Văn ví là "người dát âm thanh vào hơi sương trong" khi ca Nam ai, thì giọng Bạch Dương đêm nay trên thuyền sông Hương với tôi là "người thả âm thanh trên dòng trăng" khi ca Bắc phạt, Thiết nhạc, Hát nói... Qua cuộc chuyện trò vội vàng trên thuyền tôi được biết năm 2000, Bạch Dương và Nguyễn Văn Hải người thường đàn đáy cho Bạch Dương hát đã được Nghệ sĩ Ưu tú Kim Đức nhận lời truyền dạy nghệ thuật ca trù. Bạch Dương đã nhận được Huy chương vàng về ca trù tại một liên hoan nghệ thuật. Trên vuông chiếu sông Hương, dưới đôi tay điêu luyện của Bạch Dương, những thanh tre mỏng mảnh của lá phách như được Bạch Dương phả hồn mình vào đó để tạo nên từng tràng hạt âm thanh châu ngọc, sinh động mượt mà... và chất giọng hào hoa, nền nã, sang trọng của Bach Dương cộng âm với cung đàn đáy Nguyễn Văn Hải, Trần Ngọc Linh nhịp trống… đã tạo cho người thưởng ngoạn vào những trạng thái bềnh bồng, lãng đãng rồi sâu lắng, rất nội tâm. Qua giọng ca, lời ca thanh thoát, truyền cảm của tài nữ Bạch Dương, bạn tri âm càng hình dung được về bốn mùa thiên nhiên phong hoa tuyết nguyệt, về những số phận người buồn vui, hệ lụy trước cuộc đời, hiểu sâu sắc thêm về những nhân tình thế thái...

 

Cát đâu ai bóc tung trời?

 

Sóng sông ai vỗ? Cây đồi ai rung?

 

Phải rằng: Dì gió hay không?

 

Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai?

 

         (Hỏi gió, hát Nói - Tản Đà)

 

            Phải nói, sông Hương càng về khuya là một không gian lý tưởng cho loại hình ca Trù, ca Huế. Ca Trù, ca Huế có chung một đặc điểm là người ca, người đàn, người nghe cùng ngồi chung trên một vuông chiếu truyền thống. Tiếng hát cung đàn như chạm xuống mặt sông rồi trả lại cho hồn người tri kỷ, tri âm trong khoang thuyền Huế. Khinh khoái. Nòi tình.

 

     Đồng thanh tương khí, nghệ nhân Minh Mẫn, nghệ Nhân Thanh Hương dù tuổi hạc đã cao nhưng cũng cao hứng giao lưu cùng ca Trù, hát Nói  các làn điệu Nam xuân, Hành vân, Lý cửa quyền, Lý huê tình, Chầu văn Huế... Và từ cuộc hạnh ngộ nghệ thuật tuyệt vời này, bất chợt tôi nảy sinh ý tưởng: Từ lâu, các ferstival Huế chương trình Âm sắc Việt với ba loại hình nghệ thuật cổ truyền ca Trù, ca Huế, Đàn ca Tài tử Nam Bộ chỉ đóng khung trong Đại Nội, cũng chỉ phục vụ cho rất ít người nghe. Tại sao hằng năm trên những vuông chiếu sông Hương trữ tình, khoáng đạt ca Huế, ca Trù, Đàn ca Tài tử Nam Bộ không thực hiện được những cuộc gặp gỡ giao lưu thấm đượm nghĩa tình? Việt Nam, vẻ đẹp tiềm ẩn cần được phát lộ thông qua nhiều hình thức giới thiệu quảng bá trước đông đảo công chúng yêu nghệ thuật truyền thống. Sắc Thanh Hương… từ đất nước mình còn phong phú, còn muôn hồng nghìn tía lắm!

 

     Xin cảm ơn các anh chị của VTV1, cảm ơn các nghệ nhân, nghệ sĩ đàn ca Huế. Cảm ơn nghệ sĩ Bạch Dương, Nguyễn Văn Hải... đã cho tôi được đượm hương, thưởng âm tài hoa của ca Huế, ca Trù trên vuông chiếu sông Hương. Ước chi chúng ta lại gặp nhau trong một mùa trăng Huế. Chúng ta lại cùng hỏi dan díu chi trần lụy, cùng gặp gió đây hỏi một đôi lời. Lời của nước non, lời của những tâm hồn đồng điệu, thanh khí, tương cầu…

 

Sông Hương, 22-7-2008.

 

ONG ĐÊM

 

Tôi thường có thói quen thức rất khuya. Bàn viết. Tôi và đèn chong. Đêm bình yên. Đêm rất liêu trai. Tứ bề không gian yên ắng. Gió nhẹ nhàng tặng tôi thoáng hương vườn. Tôi hân hoan mở lòng tiếp nhận. Qua khung cửa sổ, trong ánh sáng hắt ra từ ngọn nê-ông, tôi nhìn thấy vòm lá đào gợi cảm. Sương mong manh hạt tình. Con dơi đêm ăn nửa trái đào ngon. Còn nửa trái rụng buồn mặt đất...

 

Đêm đêm tôi không đơn độc. Ngọn đèn khuya đã mời gọi nhiều ong nghệ vào tận phòng tôi. Ong bay lượn, chao cánh hồn nhiên chào mừng ánh sáng. Tiếng cánh ong bay thành âm thanh quen. Thỉnh thoảng ong chạm vào thành ống nê-ông kêu tanh tách. Sự va chạm vô ngại. Tôi cũng vô ngại. Tôi an nhiên khi đàn ong chao đảo xuống, lên, ngang dọc quanh chỗ tôi ngồi. Qua những cánh ong tôi thả hồn phiêu du. Tôi hình dung nơi chốn tôi sẽ đi qua. Là những ngôi nhà bằng hữu trong nước, ngoài nước. Là từng chuyến đi dài dọc đường thiên lý nắng, mưa, gió bụi. Là biết bao vòng ôm bạn bè tứ xứ. Biết bao lần siết tay người thân tình muối mặn gừng cay. Hoa hồng. Nụ cười. Nước mắt. Hội ngộ. Chia ly. Tôi phiêu du. Tôi khát vọng kiếm tìm buồn vui trên trái đất.

 

Đêm đêm tôi không đơn độc. Nén những đớn đau tột cùng từ lâu trong thắm sâu của riêng mình tôi tự thấy hạnh phúc trước đêm. Hạnh phúc ấy tôi muốn san sẻ khắp cõi người ta nhân ái. Đàn ong thân thiện tìm ánh sáng. Ánh sáng thân thiện mơn trớn những đường bay của ong. Tôi thân thiện muốn mời em chuyện trò trong mỗi khuya thanh vắng. Đêm trở thành liêu trai khi chúng ta hiện hữu giữa đời nhau không nghi hoặc. Chẳng ái ngại. Hạnh phúc chợt dịu dàng khi người cần có nhau bền lâu một nguồn tình.

 

Với tôi. Đàn ong đêm có thể là sự hiển linh của nghiệp duyên đời. Tôi mơ thấy mình hóa thân vào ong bay tìm phấn hoa dương thế. Mật tôi luyện thành mộng là của trần gian yêu thương.

 

 Huế, 6-7-2008.

 

NHÀ EM KHÔNG HOANG VẮNG

 

            Một sớm nắng tôi tìm sang nhà em. Cánh cổng vườn xanh rộng mở. Cửa nhà em không khóa. Hương cỏ hoa ngan ngát dịu êm. Không có ai nơi đây. Em đâu rồi? Em vừa đi vắng? Có tiếng chim hót khẽ trên vòm cao giáng châu. Thinh lặng. Tịnh yên. Tự tin, tôi dạo quanh vườn lung linh màu lá ngọc. Tôi mong thấy dáng em thấp thoáng trong hương sắc xuân thì. Em đâu rồi? Nắng lổ đổ trên nền lá rụng. Một chút nao lòng. Em không thăm vườn xanh ban mai?

 

       Tự tin. Tôi vào nhà em. Dòng chữ trắng tinh khôi trên cánh cửa. Nét chữ con gái mềm bông lau: “Nhà bỏ hoang vài ngày”. À! Ra thế! Hèn chi tất cả đều yên ắng. Không có bài ca em yêu thích ngân lên những nốt tình. Không tiếng chân nhẹ nhàng bước ra chào bạn hữu. Không có em nơi này. Bỗng dưng tôi thấy mình bối rối. Nhà bỏ hoang rồi em đi đâu? Về đâu?

 

       Nhưng chợt tôi nghe lòng ấm lại khi nhìn lên gương mặt em. Khuôn hình vừa vặn với tầm nhìn chợt sáng trưng diệu kỳ, trìu ái. Tấm hình em còn y nguyên chỗ cũ. Em trang trọng. Nhân hậu một đài hoa. Đôi mắt đẹp của em vẫn là ánh nhìn trong veo thánh thiện. Mắt ngời sao. Mắt tỏa nắng. Mắt hiền. Đôi mắt em luôn tạo cho tôi một cảm giác gần gũi đằm thắm, không xa cách. Một phần mái tóc em chảy xuống bờ vai trắng cũng cho tôi niềm vui thuần khiết. Lắng sâu. Tóc gợi hồn con gái. Tóc đằm hương thiếu nữ. Gương mặt em càng trinh thơ. Khả ái. Với tôi, em vẫn hiện hữu trong khoảnh khắc này.

 

       Em vẫn hiện hữu nơi đây. Ngôi nhà em không hoang vắng. Cho dù đang có những cơn mưa đầu mùa bất chợt hay nắng lụa ban trưa. Vì tôi hiểu từ rất lâu, em đã phả hương xuân em vào từng căn phòng xinh xắn. Hơi ấm em ngày đông cũng từng ủ kín mỗi khuya về. Trong từng giây phút thời gian đi qua ánh nhìn em cũng phát sáng thân yêu lên từng không gian nhà em dịu êm. Hân hoan và bằng an.

 

       Em vẫn hiện hữu nơi đây. Ngôi nhà em không hoang vắng. Em đã gửi lại mái ấm này biết bao trạng thái tình cảm buồn vui, khổ đau, hạnh phúc. Là hỷ nộ ái ố ai lạc dục thường tình của một con người. Kể cả những lúc tâm tư em như chán chường, như điên loạn trước những ba động cuộc đời. Trước những thử thách tinh thần mà em ngỡ mình không thể vượt lên. Vâng. Ngôi nhà em không hoang vắng. Em đã để lại trong từng sát na biết bao sắc thanh hương cho ngôi nhà em yêu dấu một đời.    

 

     Hiểu em rồi. Tôi bình tâm ra khỏi vườn em giáng châu đang có chú chim sâu chuyền cành líu lo gọi bạn. Ngôi nhà em sáng lên nắng thiên ân.

 

 Huế, 28-6-2008.

 

GOM NẮNG

 

"Gương mặt người gom nắng đẹp trần gian". Câu thơ chợt hiện khi được nhìn em biến ảo trước khuôn hình. Bây giờ Sài Gòn đang có những cơn mưa đầu mùa. Mưa đầu mùa cỏ non lên xanh. Mưa đầu mùa làm trời tắt nắng. Bây giờ Huế cũng đang vào mùa mưa dông. Mưa cho lúa trỗ cờ theo tiếng sấm chiều chớp giật. Ấy thế mà tôi tìm thấy nắng nơi em. Em đã gom từng tia sáng ấm đất trời lên tóc. Lên môi. Lên mắt. Lên ánh nhìn thánh thiện tinh khôi có thoáng gợn chút u hoài thiếu nữ.

 

"Gương mặt người gom nắng đẹp trần gian". Cảm xúc lắng sâu khi biết em còn quan tâm đến những số phận bất hạnh trên trái đất trầm luân hằng hà kiếp nạn. Bão tố. Động đất. Chiến tranh. Bạo hành. Bất công. Áp bức. Ngục tù... Những nghịch lý tột cùng khổ đau trong từng sát na buồn nơi dương thế. Em gom nắng để một ngày em ban tặng nắng. Nắng trong đôi mắt tròn xoe trong sáng. Em gom nắng để hằng giờ em gửi nắng tin yêu. Nắng từ gò má hiền ngoan tỏa ánh xuân thì. Nắng như thì thầm phân vân băn khoăn tự vấn về con người. Về những nỗi buồn nhân tình thế thái.

 

"Gương mặt người gom nắng đẹp trần gian". Tôi không thể nào tìm thấy câu thơ tiếp theo để viết. Tôi thầm mong em cứ lung linh nắng. Cứ phát sáng bao dung không thoáng gợn chút u hoài thiếu nữ. Em còn quá trẻ để phải trầm tư, khắc khoải trước những mạng nhện ưu phiền hệ lụy bủa giăng. Em còn nhiều mạch nguồn thương yêu mới được khơi dòng từ cuộc sống. Hân hoan đi em. Bình yên nghe em. Người con gái gom nắng đẹp trần gian nhân hậu dâng đời từ những khuôn hình diệu kỳ, biến ảo...

 

Huế, 21-6-2008.

 

NHỮNG ĐÀI SEN

 

Lần đọc những trang blog của những người bạn trẻ. Trong hằng hà sa số blog với phong phú hình thức, sắc màu, với đa dạng nội dung, phương pháp diễn đạt, tôi thấy mừng thầm mà không còn vướng víu nỗi băn khoăn như trước. Từ những gì tôi bắt gặp, tìm thấy, tôi hiểu rằng đã có rất nhiều bloger trang trọng thể hiện lòng của mình dành cho đất nước, quê hương, đạo pháp... Nổi lên là mối quan tâm nhức nhối tới chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Sự trăn trở về hiện tượng lạm phát. Tình hình vật giá leo thang. Xăng dầu. Điện nước. Gạo. Sách giáo khoa... Mối ám ảnh, thương cảm tới từng số phận. Tuổi thơ, người già, phụ nữ, lao động xuất khẩu, hôn nhân dị chủng... Niềm lo lắng, ái ngại, đắng cay trước cảnh nghèo hèn trong cuộc sống với những dự án rùa, quy hoạch treo. Nỗi đau xót trước bất công xã hội; tham nhũng; chạy chức; chạy quyền. Nguồn hiếu hạnh, thương yêu vô bờ dành cho cha mẹ. Tình cảm trong sáng, hạnh phúc lứa đôi. Chuyện học đường. Việc ứng xử tốt đẹp tôn sư trọng đạo. Nghĩa khí với bạn bè đồng môn, đồng nghiệp. Chuyện đề xuất những dự án kinh tế văn hóa xã hội nhằm định hướng sự nghiệp tương lai... cùng những trăn trở, phản biện, đặt vấn đề làm thế nào cho tổ quốc mình, dân tộc mình vững mạnh, phồn vinh, vươn vai cùng năm châu thế giới.

 

Mỗi blog tùy theo tài hoa, tâm trạng, tình cảm buồn vui của mỗi blogger mà định hình, chuyển tải lên con chữ. Những con chữ trên blog tự nhiên có hồn, óng ánh chất liệu cuộc sống. Mỗi blog là một đài sen. Sinh động. Đa diện. Đa sắc. Đa thanh. Bát ngát hương...

 

Xin bày tỏ sự quý trọng, mến mộ đến những blog trẻ trung, trong sáng, thanh khí, hào hoa ấy. Các bạn đã cho tôi tiếp tục khẳng định điều mình đã viết mỗi con người là một tứ thơ/ ngợi ca hành tinh hạnh phúc/ chỉ còn lại những gì đẹp nhất/ mỗi con người là một mặt trời. Mỗi con người là một mặt trời thì không ai áp bức ai, không ai thương hại ai trên quả địa cầu này! Và đất nước mình thơm mãi những đài sen!

 

Huế, 5-5-2008.

 

MƯA VUI

 

Bây giờ khi em đã hóa thân thành mưa, nỗi buồn em tan biến. Khi mưa chạm lên sợi tóc rối xuân thì em, mưa như có hồn đang yếm âu em. Em bảo bây giờ mưa vui. Mưa không thoáng mắt buồn.

 

Đã qua đi trong em những ngày mưa buồn chán cũ. Mưa xưa thường làm tâm hồn em chùng xuống, u hoài. Em đã từng thất vọng trong mưa. Lúc đó mưa hóa thân vào nỗi khổ đau con gái. Em không đủ sức vươn tới nơi chốn bình yên của riêng mình.

 

Bây giờ mưa vui. Mưa khiêu vũ cùng em điệu tinh khôi về một cuộc tình sẽ đến. Mưa thì thầm hát từng giai điệu mới ngợi ca người và người thương nhau dài lâu giữa thế gian trầm luân. Mưa vẽ lên không gian xanh những sắc màu kỳ diệu của hạnh phúc lứa đôi trong sáng, hồn nhiên. Bây giờ mưa vui. Mưa gieo làn hương cho em tiếp nhận tinh hoa đất trời bí nhiệm. Mưa không còn làm em thấy mình đơn độc xa lạ trên mỗi nẻo đi về. Mừng em đã tìm thấy, đã cảm nhận mưa vui.

 

Bắt chước em tôi đưa tay hứng giọt mưa đầu mùa. Những giọt mưa tôi vo thành nắng. Nắng hồi quang trên gương mặt em hồn hậu môi cười. Bắt chước em tôi viết: "Mưa vui!". Nơi phương trời Huế trong ngôi vườn giáng châu với lung linh trắng nguyệt quế tôi thầm mong. Em. Ngày về.

 

 

 

Huế, 3-6-2008.

 

HOA BÁO MƯA

 

Vườn nhà tôi có hai loài hoa mà tôi thường gọi tên với chỉ riêng mình: Hoa báo mưa. Hoa báo mưa của tôi là hoa nguyệt quế. Hoa nguyệt quế trắng, nhỏ nhắn như chiếc bông tai người con gái xuân thì.

 

Hương thơm thanh khiết về đêm nhè nhẹ. Gió trao hương cho ai trong đêm Huế mà lặng thầm, dịu dàng lan tỏa. Hoa nguyệt quế còn được gọi là nguyệt quới. Húy chăng? Là bộ tứ trong thú vui sành điệu của người chơi cây kiểng: sung mãn quang quế.

 

Trước khi vườn nhà tôi có hoa nguyệt quế tôi thường thưởng hương nguyệt quế tại nhà đức bà Từ Cung trong những năm 1980, 1990... cùng với một số tri âm ca Huế: vợ chồng nghệ nhân đàn nguyệt, đàn tam Quang Hải Phạm Văn Thiết, nghệ nhân đàn nhị Nguyễn Văn Tân, ca sĩ tài danh Thanh Tâm... Cuộc chơi cứ kéo dài hàng đêm không dứt. Chuông nhà thờ đổ hạt trong sương. Canh năm rồi câu ca còn luyến nhạc. Cung tỳ bà ngân dài ý ngọc. Mặt trời lên chầm chậm bởi... lời ca.

 

Có đêm vầng trăng hiện lên trước mặt tư dinh đức bà Từ Cung, từ phía Ngự Bình như hình tượng một nguyệt cầm. Hình ảnh này cho ta cảm tưởng đàn và trăng là một. Trăng hiện thành âm điệu nhạc đời buông. Đàn quyện thơm hương. Đàn ngân vọng ngàn phương. Trăng ngân cung đàn... Ca Huế tràn tình đằm hương nguyệt quế... Qua làn hương chúng tôi thầm biết hôm sau trời sa mưa.

 

Hoa báo mưa của tôi là hoa địa lan màu hồng thắm thường nở vào mùa thu, khoảng tháng bảy tháng tám âm lịch. Tháng bảy địa lan nở phát tín hiệu trời sẽ có những cơn mưa chớm thu bất chợt. Quê hương tôi đã vào mùa thu tế. Ký ức tuổi thơ ngủ lăn lóc trước sân đình trong thiêng liêng trầm hương chiêng trống.

 

Ký ức những năm trưởng thành thường cùng các nghệ nhân đàn ca Huế và nam thanh nữ tú làng Chuồn ra Đồng Miệu đàn hát xướng ca chờ đợi giờ chánh tế. Ký ức theo sắc hồng địa lan hình thành những thước phim tình tự quê nhà. Địa lan còn có loại màu vàng, màu trắng mà sao tôi cứ nhớ địa lan hồng. Có phải những cơn mưa giáng hạ xuống trần gian sau khi địa lan hồng nở đã hằn sâu vào tiềm thức tôi. Sâu lắng. Trữ tình.

 

Tôi yêu nguyệt quế. Tôi trang trọng hái quả nguyệt quế chín đỏ trong vườn đức bà Từ Cung về vườn mình ươm với niềm vui thuần khiết. Tôi yêu địa lan hồng. Tôi trìu mến tìm bứng một cụm địa lan trồng bên góc sân nhà. Mùa xuân lòng ung dung khi ngắm nhìn màu nguyệt quế trắng trinh nguyên lung linh trên vòm xanh lá biếc, thần trí lâng lâng tiếp nhận làn hương dịu dàng nguyệt quế. Mùa thu tâm hồn thanh thản trước sắc hồng địa lan đằm thắm. Nguyệt quế, địa lan cũng có công việc lặng thầm như ý: Hoa báo mưa. Rất thương. Tôi đã lấy hình ảnh hoa báo mưa để đặt tên một người. Nơi xa xôi...

 

"Tứ thời trung hữu hạ. Nhất vũ hóa vi đông". Bốn mùa có mùa hạ bên trong. Một trận mưa là thành mùa đông. Bây giờ Huế đang mùa hạ. Tôi ngồi bên dòng Hương giang nhìn mưa đông. Gió se lạnh. Tôi một mình. Sông Hương với tôi. Những đêm nào xa thức trắng trên thuyền. Con trăng. Ngọn gió Phu Văn Lâu. Cung đàn. Giọng ca Huế. Hoa đăng lung linh. Buồn vui. Gương mặt người ca nữ... Tất cả điều ấy là những hiện tại một thời để chừ đây thành quá khứ. Quá khứ đẹp mà u hoài. Có lẽ do u hoài mà đẹp.

 

Không dưng tôi nhớ hoa báo mưa. Mưa của hoa không còn buồn nữa. Mưa đã thành thuộc tính của hoa rồi. Tự nhiên tôi muốn hoa báo mưa về cùng tôi trò chuyện. Cùng hứng những giọt mưa vui. Cùng hân hoan tạo nên một hiện tại không tư lự. Một hiện tại vô ngại vô ưu. Hương nguyệt quế từ hoa báo mưa lan tỏa trên tiềm thức tôi cảm giác bình yên. Và tôi đã nói với hoa báo mưa về điều ấy. Em nhớ luôn đan kết những hiện tại tuyệt vời cho mai sau nhìn lại em sẽ thấy mình có nhiều quá khứ diệu kỳ không sầu lụy. Khổ đau. Như em đã từng có một quá khứ không như ý. Và biến cái quá khứ thủy tinh vỡ kia thành những mảnh sao lung linh làm đẹp cho hiện tại này. Dường như em đã nghe. Đã cảm nhận. Đã như ý.

 

Tôi vẫn một mình bên triền sông. Vắng. Mưa đông trong mùa hạ. Tôi thầm nghĩ: với hoa báo mưa, mưa không còn là nỗi buồn chán nữa trong em thì với tôi mưa từ lâu là tri âm. Tôi gắn bó với mưa Huế. Mưa đêm Hương giang. Mưa trong chiều Vọng Cảnh. Mưa ban mai Ngọc Hồ... Nhờ có hoa báo mưa tôi kịp đón những sợi mưa gọi đời hồn nhiên trở lại. Và hình như em cũng thế. Em ung dung mời một tình yêu mới tinh khôi chưa có tên về. Phải không em. Hoa báo mưa?

 

Huế, 6-5-2008.

 

MÁI TÓC

 

            Mái tóc phụ nữ Việt Nam đã sinh động mượt mà trong văn học nghệ thuật bác học, dân gian. Mái tóc tôn vinh người nữ trên quê hương vĩnh hằng cùng năm tháng. Vậy mà... trang báo Tuổi trẻ ngày 9-4-2008 đã gây sốc cho nhiều độc giả, trong đó có tôi. Bán tóc nuôi con mà mua tóc cũng nuôi con... Đất nước mình! Ôi chao! Những nghịch lý đời cứ nhan nhản phơi bày lên trước mắt ta từng sát na buồn.

 

            Này nhé! Xe trâu thay cho xe cơ giới trong thế kỷ 21 xã hội công bằng dân chủ văn minh. Này nhé! Một bộ phận nông dân Kiên Giang một sớm mai thức dậy chợt thấy đất ruộng mưu sinh của mình thành sổ đỏ nằm chắc nụi trong tay người quyền thế. Này nhé! Cái ác lộng hành giữa phố Sài Gòn chỉ vì một chiếc điện thoại cầm tay. Này nhé! Không đường, không điện, không nước; trẻ em bỏ học đến 50%... đó là cuộc sống của 53 hộ dân vạn đò khu tái định cư Đông Hải, Lộc Trì, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế từ năm năm nay. Này nhé! Hoa đào Nhật Bản trên đất Tràng An thanh lịch Hà thành chợt tan tác, tả tơi cành ngọn bởi lòng ham muốn chiếm hữu cái đẹp phù hư cho cá nhân mình của một số người*... Liệt kê sao hết được những thước phim giữa đời thực trái khoáy, cay con mắt, xót lòng dân! Đất nước mình! Ngộ thiệt!      

 

Từ chuyện những mái tóc dài người đẹp Yên Thành, tôi bồi hồi nhớ mái tóc dài chị Sáu trong bài thơ dài viết về chị Võ Thị Sáu của nhà thơ Phùng Quán mà tôi đã từng dựng thành hoạt cảnh thơ Võ Thị Sáu trên sân khấu Sinh viên Huế những năm 70: "... Sáu nhớ lời mẹ dặn/ Bao giờ tóc con chấm ngang lưng, mẹ sẽ mua cho con chiếc khăn màu bông lý/ Nhưng mẹ ơi! Tóc con không bao giờ dài nữa. Chỉ còn năm phút nữa thôi/ Trái tim con ngừng đập/ Mái tóc con giặc sẽ chôn xuống đất/ Chôn tất cả những gì mẹ quý mẹ yêu... Nhưng mẹ ơi! đừng buồn/ Mất một mái tóc con cho muôn mái tóc đẹp xinh thế này/ Tóc con mục nát ở đây/ Em con mái tóc gió bay đến trường...".

 

Khát vọng, ước mơ, sự hy sinh của chị Sáu và của biết bao nhiêu người khác nữa đúng là sau đó đã thành hiện thực. Hàng triệu triệu mái tóc học trò xanh thơm thời con gái xuân thì đã tung bay trên muôn ngả đường trinh thơ đến lớp, đến trường mỗi ngày. Không những chỉ mái tóc mà còn cả tiếng chim ca như lời thơ chị Sáu "... Trên rừng chim hót chim ơi!/ Ta làm cách mạng ta vui đến cùng/ Ngày mai chim đến mà ăn/ Nhà tù Côn Đảo thành đồng lúa thơm/ Chim tìm bông lúa ngát hương/ Cài lên nấm mộ đất vàng cho ta...".

 

Đẹp thế đấy! Bi hùng thế đấy! Lạc quan nữa! Mà sao bây giờ đây lại có chuyện những mái tóc người phụ nữ Yên Thành bán tóc nuôi con mà mua tóc cũng nuôi con... lên trang báo Tuổi trẻ hôm qua. Xứ sở mình! Răng rứa?

 

Huế, 10-4-2008.

 

GẶP SẦU NỮ ÚT BẠCH LAN

 

Đêm thứ ba, 18-3-2008 với Nguyễn Văn Hóa, người bạn cùng quê làng Chuồn dự đêm thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím mừng thượng thọ 81 tuổi nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà do Câu lạc bộ thơ ca Nhà Văn hóa Phú Nhuận tổ chức, trong nhiều tiết mục thơ nhạc được trình bày, tôi xúc động bồi hồi khi xem và nghe Út Bạch Lan ca bài vọng cổ của soạn giả Kiên Giang.

 

Út Bạch Lan ngày xưa của tôi giờ là nghệ sĩ ưu tú rồi. Tôi viết ngày xưa là bởi hồi mười ba, mười bốn tuổi thất học mỗi ngày tôi thường ra chợ Quảng Trị phụ giúp mạ bán cơm, rửa chén đọi. Mỗi buổi trưa khi đã xong việc, tôi xin mạ đi nghe cải lương vọng cổ nơi gian hàng bán áo quần quảng cáo của vợ chồng ông Nam nhà ở bờ hồ Thượng Tứ trong Huế ra. Tuổi nhỏ nên nghe rồi thích đến thuộc lòng cả dĩa vọng cổ của các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Út Hậu, Văn Hường, Thành Được… Riêng Út Bạch Lan thì tôi mê giọng ca vai diễn sơn nữ Phà Ca trong vở cải lương Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang.

 

Tha thiết, ngậm ngùi, bồi hồi biết mấy khi nghe sơn nữ Phà Ca than thở, phân phô Ngày mai đám cưới người ta. Tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn? Rồi Áo cưới giả choàng vai cô dâu giả… Ôi chao! Tiếng hát thì mùi. Chuyện tình lại trớ trêu, ngang trái. Thời niên thiếu cùng khổ của tôi là rứa đó. Những số phận người buồn, vui, thương, cảm giữa chợ đời, trong giọng ca Út Bạch Lan cứ in sâu vào tâm thức tôi vốn đa cảm lắm tình. Thuộc lòng những bài ca, bắt chước các làn điệu, tôi về nhà ru em gái tôi bằng vọng cổ, bằng chuyện tình buồn sơn nữ Phà Ca mà sầu nữ Út Bạch Lan đã hát bên cạnh lời ru những trang Kiều. Sau này tôi cũng ru hai con trai tôi bằng vọng cổ, cải lương, bằng ai oán tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn và ru con thêm bằng lời ca Huế Nước non ngàn dặm ra đi. Cái tình chi...                          

 

Chính các làn điệu lý, chèo, quan họ, chầu văn ngoài Bắc, dạ cổ hoài lang trong Nam, ví dặm Nghệ Tĩnh, bài chòi khu Năm, dân ca Bình Trị Thiên, ca Huế... đã ban phát cho tôi nguồn rung cảm thật từ thuở thiếu thời. Trong gần ba mươi năm qua tôi soạn lời ca Huế, tổ chức biểu diễn ca Huế thính phòng, trên thuyền sông Hương, lưu diễn trong ngoài, nước... có lẽ cũng do được thấm sâu, được mê hoặc từ cái nền nghệ thuật truyền thống nguồn cội ấy.

 

Khi thấy chị ra về trước, tôi chạy theo tìm gặp Sầu nữ Út Bạch Lan và nói: Em xin chào chị. Em rất mừng khi lần đầu tiên em được gặp chị. Thời niên thiếu của em chị là sơn nữ Phà Ca. Tôi nói chỉ có vậy. Và Sầu nữ dặn: Khi nào ghé nhà chị, 62 Trần Hưng Đạo, chị ở chung cư. Tới hỏi chị Út, ai cũng biết.

 

Cuộc hạnh ngộ ngắn ngủi mà tình. Riêng âm hưởng giọng ca Út Bạch Lan thì ngân thầm trên linh hồn tôi một đời da diết. Và chắc không phải chỉ riêng tôi đâu. Chị còn có nhiều khán giả ái mộ...

 

Nhìn dáng chị một mình xuống cầu thang tôi nghĩ: Út Bạch Lan đúng là sầu nữ. Thích thật!

 

Sài Gòn, 18-3-2008 

 

HÒ RU CON SỐNG MÃI VỚI TUỔI THƠ          

 

            Như mọi miền đất nước khác trên thế giới, dân tộc nào cũng có loại hình văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại: huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện tiếu lâm, tuồng, hài, ca dao, hò vè... mà trong đó hát, hay còn gọi là hò ru con (ru em) là hình thức diễn xướng mà bất cứ ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát, lục bát biến thể với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.

 

                        Hai tay cầm bốn tao nôi

 

                      Tao thẳng tao dùi tao nhớ tao thương.

 

     Chỉ với hình ảnh bốn tao nôi nhưng đã chứa đựng biết bao điều để nói về cuộc sống, về sự hình thành nhân cách tuổi thơ của một đời người mà mẹ, mà chị đã gửi gắm trọn vẹn tấm lòng qua câu hò điệu hát.

 

                              Cất lên một tiếng la đà

 

                              Cho chim nhớ tổ, cho ta nhớ mình.

 

            Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương mình được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm yêu.

 

            Nghe mẹ hát ru, bé đã có hiểu gì đâu những nội dung sâu sắc của cái hồn ca dao về nhân tình thế thái, vì có lúc mẹ hay chị mượn bốn tao nôi để nói về cuộc đời, nói với người thương về một nỗi đắng cay bất hạnh hoặc nói về nguồn hạnh phúc tràn trề trong cõi người ta:

 

                              Có phải trưa nay chị nhớ người thương

 

                              Nên mượn cớ ru em để lòng mình thương nhớ

 

                              Có phải ngàn năm thương thương nhớ nhớ

 

                              Khiến tiếng đàn bầu nghe xé ruột vò gan.

 

                                                                        (Nhớ Huế - Tô Kiều Ngân)

 

    Cũng có khi hồn đất nước đượm màu trong lời ru mẹ nuôi dưỡng tình tự quê nhà, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca dạy cho ta bài học về tinh thần yêu Tổ quốc.

 

                              Con ơi con ngủ cho lành

 

                              Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi

 

                              Muốn coi lên núi mà coi

 

                              Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng.

 

            Lời ru êm ả. Tiếng mẹ, tiếng chị dịu dàng nâng giấc ngủ tuổi thơ bay vào mộng cảnh. Có giấc ngủ tốt, sức khỏe tăng dần, có nhịp thở điều hòa, tâm hồn tuổi thơ thanh thản. Và bé vẫn chưa hiểu được gì nhiều trong nội dung mẹ hát. Chỉ có âm hưởng là lắng đọng, là chất liệu tuyệt vời giúp bé bình yên giữa lòng nôi. Và mẹ, và chị vẫn cất lên nỗi đau một thời về thân phận người phụ nữ:

 

                              - Chàng ơi phụ thiếp làm chi

 

                              Thiếp là cơm nguội những khi đói lòng.

 

                          - Tháng Giêng tháng hai anh còn mê tam cúc, yêu lượng

 

                             Tháng ba tháng tư anh còn mê mã tượng pháo xe

 

                             Em can anh anh chẳng hề nghe

 

                             Đầu em đội bó củi nè thảm chưa?

 

            Nỗi đau thầm nén vào lời ru và tao nôi mẹ, chị vẫn đưa đều trong trưa, trong khuya lặng lẽ:

 

- Anh buồn có chốn thở than

 

Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.

 

- Nhứt một, nhì hai, tam ba, tứ bốn

 

Ngũ năm, lục sáu, thất bảy, bát tám, cửu chín, thập mười

 

Em đây miệng nói, môi cười

 

                        Ưu sầu trong dạ, thương người người ơi!

 

                  Đó là nói về nỗi đau của mẹ, của chị về một cuộc tình sầu. Nhưng không chỉ có thế. Tình mẹ còn dành cho con nữa chứ! Cái nghĩa thiêng liêng mẫu tử; niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời ru mẹ thiết tha:

 

                                   - Mẹ thương con ruột thắt gan bầm

 

                                   như bông sen díp lại, khôn cầm lỡ buông.

 

     - Ai trồng cây cũng muốn cây xanh

 

     Ai sinh con cũng muốn lúc trưởng thành con nên.

 

            Mẹ hát, chị ru và có một ngày lớn khôn con hiểu thế nào sự hiếu hạnh dành cho mẹ:

 

                               - Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

 

                                Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

 

                                                                (Nguyễn Duy)

 

- Lên chùa thấy Phật muốn tu

 

Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.   

 

     Hò ru con là giai điệu đẹp bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung câu hò ru con hàm súc, phong phú, đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, tương lai... Là tình tự quê nhà giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, tự hào về đất đai xứ sở:

 

                                - Thương chi đồng nỗi thương con

 

                                Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà.

 

- Ru em cho théc cho muồi

 

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

 

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu

 

Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh

 

Chợ Dinh bán áo con trai

 

  Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.

 

            Từ đất đai, mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:

 

- Thức khuya dậy sớm cho quen

 

Đổ than kéo bệ đập rèn cùng anh.

 

- Ai ơi uống rượu thời say

 

Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo?

 

            Từ những giá trị tinh thần Chân Thiện Mỹ mẹ dạy con đạo lý làm người; dạy con biết rèn luyện, trau dồi nhân cách, biết tu nhân tích đức trước cuộc đời nhiều hệ lụy:

 

                                - Lênh đênh trước biển Thần Phù

 

        Khéo tu thời nổi, vụng tu thời chìm.

 

            Nội dung hò ru con tựu trung là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt. Có khi mẹ, chị hát về nhân nghĩa, có khi mẹ hát bài chống đế quốc, phong kiến một thời nhũng nhiễu. Có khi mẹ, chị hò về đạo lý làm con, về cái nghĩa vợ chồng. Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, nội dung phát lộ dần ra theo độ tuổi. Càng lớn, càng hiểu dần những điều mà mẹ, chị gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Biết ơn vô cùng điệu hò ru con cái thuở nằm nôi.

 

            Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái; vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, về đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở. Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều, âm ba tiếng chuông chùa, hồi chiêng trống đình làng mùa lễ tế, bóng dáng lũy tre xanh miền thôn dã, dòng sông thơ ấu... Tất cả những sự vật cụ thể mà chan chứa tình non nước quê nhà ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ khi tuổi còn thơ cho tới lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn người cứ thẩm thấu, thấm nhuần một cách sâu lắng những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả đó.

 

            Mong sao dù bất cứ không gian nào, thời gian, hoàn cảnh, địa hình... nào, người phụ nữ Việt Nam cũng khôn khéo dạy dỗ tuổi thơ bằng những điệu hò ru con của quê hương dân giã. Và những người mẹ Việt Nam bằng vốn liếng văn hóa truyền thống dân tộc của mình sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm; cho mai ngày lớn khôn sẽ trở thành người công dân gương mẫu, có phẩm chất đạo đức, giàu lòng hiếu hạnh đóng góp cho xã hội nhiều công ích thiết thực có giá trị cao với nhân cách Việt Nam.

 

Huế, 25-1-2008.

 

LỬA "ĐƯƠNG CHỨC" 

 

Từ trước đến nay trên nhiều diễn đàn người ta hay nói về ngọn lửa của thanh niên, lửa của lứa tuổi hai mươi. Tuổi hai mươi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Tuổi hai mươi hôm nay với công cuộc dựng xây quốc gia phồn vinh giàu mạnh, xã hội hạnh phúc, công bằng, văn minh, dân chủ… Các diễn đàn thường nhắc đến ngọn lửa tuổi hai mươi với ý tưởng mời gọi, đòi hỏi thế hệ trẻ cần phải cống hiến nhiều công sức thanh xuân cho quê hương xứ sở. Những đòi hỏi, yêu cầu ấy là chính đáng và chắc chắn tuổi trẻ Việt Nam đã, đang và sẽ cống hiến trí tuệ, tài năng của mình cho Tổ quốc trên nhiều lĩnh vực bằng ngọn lửa nhiệt thành, trẻ trung, dũng khí. 

 

            Nhưng với thế hệ của những người đương chức, đương quyền thì sao? Có khi nào trên các diễn đàn truyền thông, báo chí đề cập ngọn lửa của những người đang tiếp truyền lửa của quá khứ, đang giữ lửa của hiện tại nhằm chuyển lửa tới tương lai?Trong giai đoạn này, mọi tầng lớp nhân dân đang cần nơi những người đương chức, đương quyền ngọn lửa của đức độ, trí tuệ, tâm huyết, tài năng, chí công vô tư nhằm vận hành đất nước ngày một tiến bộ, văn minh; làm cho nhân dân thoát khỏi đói nghèo để cuộc sống được phồn vinh, thịnh vượng.

 

Hy vọng và ước mơ sao ánh lửa vì nước vì dân của những người đương chức đương quyền cùng đồng hành ngọn lửa tuổi hai mươi.  

 

Thể thao & Văn hóa số 129 (2280), Thứ năm, 8- 5- 2008.

 

   THỜI TIẾT HUẾ

 

“Hai mươi làm tốt, hăm mốt xâu tai, hăm hai đeo hoa, hăm ba đưa về...”. Những ngày hai mươi tháng Chạp Huế với những cơn mưa dầm lạnh lẽo đã làm nhiều người liên tưởng đến câu trên bằng sự đồng cảm với thiên nhiên, với niềm cam chịu trước cái giá rét, ẩm ướt Huế. Dường như cái vui trong một năm của người dân Huế không có được bao ngày. Mùa xuân trong cơn lạnh còn sót lại của mùa đông năm trước, nông dân phải bám ruộng đồng, ngư dân ngâm mình trên đầm phá mưu sinh. Người xích lô rướn chân giục những vòng quay số phận buồn. Mùa hạ, sự oi bức do ảnh hưởng ngọn gió Lào khắc nghiệt đã không làm tròn giấc ngủ tuổi thơ. Mùa thu “tháng Bảy nước nhảy lên bờ”, “trời hành cơn lụt mỗi năm...” như một ám ảnh thường niên trong tâm khảm người người. Mùa đông, cơn mưa dầm dề kéo theo gió bấc, cái lạnh thâm căn cố đế về ngự khắp kinh thành, làng quê, thôn bản. Những cô gái, những chàng trai Huế không có được nhiều dịp khoe sắc màu, mẫu mã, kiểu dáng trang phục mùa đông như nam thanh nữ tú Hà thành bởi ở Huế tất cả sự đẹp đẽ đã chìm khuất sau những chiếc áo đi mưa sùm sụp trên người. Tết đến, xuân sang mưa lạnh. Có được một cuộc vui nhất trong năm nhưng mọi người, nhất là tuổi thơ cũng không hưởng trọn bởi thời tiết đông hàn trong những ngày xuân mới.

 

Hiểu Huế, càng thương Huế nhiều hơn. Tôi hình dung những chiếc lồng ấp đan bằng tre trong những ngôi nhà Huế. Đôi bàn tay mẹ già mong một chút ấm than hồng vùi dưới lớp tàn tro. Tôi hình dung những rặng cây già hứng rét trên những cánh đồng xa với đàn trâu hiền lành lặng lẽ mà tuổi thơ tôi, bạn bè tôi một thời khốn khó.

 

Huế nuôi dưỡng đời sống nội tâm của nhiều người bằng thời tiết? Huế ươm mầm thơ trữ tình da diết cho từng thế hệ bằng cảnh quan, đất trời, bằng buồn vui nhân thế, bằng chìm nổi sông Hương, bằng nắng mưa đỉnh Ngự theo năm tháng, đến rồi đi? Đã nhiều người Huế rời Huế để đến những miền đất khác nhau trong và ngoài nước. Vô vàn kỷ niệm, hồi ức về Huế đằm sâu trong tâm khảm mong được một lần bộc lộ, phát tiết trong văn học, bằng nghệ thuật, qua những cuộc hàn huyên với bạn hữu gần xa. Có một “cái tình chi...” vương víu trong tâm hồn người Huế xa quê.

 

Qua màn mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ, tiếng đàn bầu ai rơi giọt buồn trầm. Giọt đàn gợi nhớ, gợi thương cội nguồn lãng mạn và mơ Huế ngàn năm mãi là một cõi đi về.

 

Huế, 3-10-2007.

 

TÍM NHIỀU CHI RỨA HUẾ ƠI 

 

            Tạo hóa sinh ra màu sắc để làm đẹp cho trái đất này. Xanh đỏ đen trắng tím vàng... muôn hồng nghìn tía. Nhưng người ta không phải ai cũng giống ai nên người thì thích màu này, người thì ưng màu nọ. Riêng màu tím Huế thì khi đến Huế trong năm học lớp đệ nhất Quốc học Huế (1968-1969) tôi mới dần bắt gặp những điều kỳ thú.

 

            Là một cậu học trò trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị mới vô Huế ban đầu điều chi của Huế cũng làm tôi bỡ ngỡ, bắt tôi phải tò mò tìm hỏi. Té ra nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa có đồng phục áo dài màu tím. Té ra màu tím tượng trưng cho niềm mộng mơ của độ xuân thì, của lòng thủy chung như nhất với tình yêu muôn nơi muôn thuở. Té ra cô học trò Đồng Khánh mà tôi và bạn bè lẽo đẽo sau lưng theo về mỗi ngày cũng mê màu tím. Nguyễn Cửu Thanh, anh bạn cùng lớp tôi "chỉ điểm": "Cô nớ tên là Tiểu Kiều học lớp đệ tứ Đồng Khánh, nhà trong thành nội. Khi mô trời mưa, trời lạnh là dễ nhận ra cô ta. Vì Kiều thích màu tím nên áo len tím, áo mưa tím, quai nón tím, khăn quàng tím, dép cũng tím...". Tiếp nhận thông tin là tôi tìm cách quan sát và tiếp cận liền. Dịp may đến với tôi vào một buổi sáng khi Thanh phát hiện người mê màu tím đang đứng với một cô bạn trước quán sách Hương Bình trên đường Lê Lợi. Thì ra người ấy đang đứng xâu chiếc dép bị đứt quai. Vốn đã mong có dịp làm quen lại có "máu nghĩa hiệp" nên tôi mạnh dạn mở lời: "Tiểu Kiều đưa mình xâu giúp cho kẻo sắp tới giờ sau rồi!". Trong khi cô học trò tên Tiểu Kiều đang lưỡng lự tần ngần với chiếc dép tím, với sợi chỉ tím dễ thương và cây kim mỏng manh chưa muốn đưa cho chàng trai lạ thì người bạn Tiểu Kiều có bảng tên Bạch Yến giục: "Thôi mi đưa cho họ xâu cho mau". Không ngờ sợi chỉ tím một thời mộng mơ của cô nữ sinh Đồng Khánh ấy sau này lại trở thành sợi "chỉ tím" của ông Tơ bà Nguyệt xe kết đời tôi với cô gái yêu màu tím ấy.  

 

            Từ chuyện riêng tư đó, tôi lần theo những màu tím của hoa bâng khuâng, hoa mua, hoa sim... trên đồi Thiên An, Vọng Cảnh... Màu tím của hoa sầu đông, hoa phong lan, hoa tầm xuân, hoa cúc, hoa cà, hoa ti-gôn... trong từng khu vườn Huế. Màu tím của hoa tử bạch ở những ngôi chùa Bảo Quốc, Thiên Mụ, Tường Vân... Màu tím của hoa tử vi (còn gọi là hoa phấn thệ hồng) trong Đại Nội và được khắc trên Cao đỉnh trước Thế Miếu, được hát thành điệu Lý tử vi trong dân ca Huế "tử vi dầu dãi nắng sương, huê cam huê quýt em thương huê nào, em thương huê mận huê đào...". Màu tím của hoa ngô đồng trên Khiêm lăng, bên điện Thái Hòa. Hoa ngô đồng tím ngắt chiều thơm, anh mời em ngắm màu hoa tím. Hiểu nhau rồi tình yêu bất biến, chim phượng hoàng gọi bạn đậu cành ngô. Thời gian gần đây những con đường Huế lại có thêm màu tím của hoa bằng lăng, hoa phượng tím.

 

            Màu tím Huế không dừng lại trên các đài hoa. Màu tím Huế còn hòa sắc trong các trạng thái tinh thần, trong tình cảm buồn vui, khổ đau, hạnh phúc. Cùng hòa sắc trong từng khoảnh khắc thời gian, trong mây trời, sông nước Hương giang, trong y phục, trang sức, ẩm thực Huế... để từ đó màu tím trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn nghệ sĩ trên mọi miền đất nước xiển dương, ngợi ca bằng nghệ thuật tạo hình, bằng thơ văn, âm nhạc... Đọc Tuyển tình khúc Huế thế kỷ 20 gồm 100 tác phẩm do Nhà xuất bản Âm nhạc Việt Nam ấn hành (4- 2002) thì đã có 4 ca khúc có chữ "tím" trong tựa đề như: Tà áo tím (Hoàng Nguyên), Màu tím Huế (Vũ Trọng Tường), Ngàn thu áo tím (Hoàng Trọng - Vĩnh Phúc), Màu áo tím và màu áo trắng (Hoàng Vân) và có 14 ca khúc của các nhạc sĩ sau đây: Thế Bảo, Phạm Trọng Cầu, Dương Đức, Hồng Đăng, Quốc Dũng, Hoàng Hiệp, Trần Hoàn, Lê Việt Hòa, Mai Xuân Hòa, Tôn Thất Lan, Văn Phụng Huy Tập, An Thuyên, Thuận Yến nhắc tới màu tím Huế với các hình ảnh áo tím, mây tím, sương tím, hoa tím, thời gian tím...

 

            Riêng thơ ngợi ca màu tím của Huế thì không thể nào thống kê cho hết. Nếu có điều kiện để tuyển chọn một tập thơ có những câu thơ hay về màu tím Huế cũng là việc mà các nhà biên soạn nên làm bởi đây cũng là một trong những nét riêng của Huế. Trước năm 1975, khi còn ở Hà Nội tôi thường nghe ba tiếng màu tím Huế. Cái chi mà có màu tím thì người ở đây gọi "màu tím Huế". Màu tím mình thích, người tình mình mê được là "tím Huế" thì sướng biết mấy, vui biết mấy. Tôi cũng thấy ấm lòng trong lúc xa quê. Mới đây thôi, từ California nước Mỹ xa xôi, có lẽ vì quá da diết nhớ Huế mà anh Trần Kiêm Đoàn đã thương về tím Huế trong bài thơ "Vàng Thu tím Huế" với những kỷ niệm, với những hồi ức trữ tình: Huế vào Thu mà không biết mình Thu/ Vì lá đỏ chút vàng mơ ai thấy/ Tim tím buổi chiều mai hồng trở lại/ Vẫn xanh ngời con nước Vạn Niên... Tuổi hoàng thành như màu mắt trong đêm/ Nghìn phai cũ trang tình đầu chưa giở/ Xa Chiêm quốc thuở "ngó tề, dị rứa”/ Mỏi chân đời còn tím Huế không em?

 

            Màu tím của phương trời Huế theo thời gian cứ nhập vào tâm thức tôi trong những lần lang thang cùng Huế. Khi thì lặng thầm sau mái tóc thề của cô gái Huế đường phượng bay đỏ lối em về, chiều nội thành dịu dàng bay áo trắng, dòng Hương xanh chuồn chuồn bay đón nắng, hoàng hôn đầy thoáng tím mây bay. Khi thì một mình thèm gặp bạn trong chiều Vọng Cảnh nâng ly hào sảng đón hoàng hôn, sông Hương xanh mặt trời rực đỏ chợt hòa tím sắc quê hương... và ước mơ những sắc màu thiên nhiên Huế đan quyện vào tâm hồn tình cảm con người những mạch nguồn sinh động rất nhân văn: xanh trong em làn hương dòng sông, đỏ trong tôi ánh trời Vọng Cảnh, tím trong nhau hồn nước thủy chung.

 

     Tím trong nhau hồn nước thủy chung. Hòa sắc tím một đời tôi tìm thấy. Hòa âm tím một đời tôi tìm nghe. Hương mùa tím một đời tôi ngưỡng mộ... Huế dấu yêu ơi! Tím chi mà tím rứa! 

 

Huế, 3-10-2007.

 

THÀNH PHỐ GYEONGJU, MỘT LẦN TÔI ĐẾN

 

Hằng năm vào dịp tháng 4, tại thành phố  Gyeongju, Hàn Quốc người dân thành phố cùng du khách từ khắp nơi trên thế giới về dự lễ hội văn hóa ẩm thực truyền thống mang tên "Lễ hội Rượu và Bánh Hàn Quốc".  Năm nay, năm thứ 10, ban tổ chức lễ hội đã mời rượu bánh của thành phố di sản thế giới Tây An, Trung Quốc, thành phố di sản thế giới Nara, Nhật Bản tham dự. Riêng thành phố di sản Huế, Việt Nam được mời dự với loại hình Nhã nhạc cung đình, ca Huế và biểu diễn mở đầu trong chiều khai mạc "Lễ hội Rượu và Bánh Hàn Quốc 2007 " -  "Korea Traditional Drink And Rice Cake Festival 2007 In Gyeongju  "(13-4-2007). Ngài Thị trưởng thành phố Gyeongju  đã trang trọng chào mừng đoàn Huế đến từ Việt Nam: "Chúng tôi được biết Nhã nhạc cung đình Huế đã được công nhận là một di sản văn hóa nghệ thuật quý của thế giới và Festival Huế là một lễ hội có quy mô nổi tiếng và mang tính quốc tế. Nhân dịp này xin mời Đoàn hãy tự giới thiệu sự nguy nga tráng lệ của Nhã nhạc cung đình Huế tại lễ hội của chúng tôi.”

 

Trong những ngày ở Gyeongju, chương trình biểu diễn Nhã nhạc cung đình và ca Huế đã tạo được sự quan tâm đặc biệt của công chúng Hàn Quốc và khách du lịch tại lễ hội. Âm thanh, tiết tấu của nghệ thuật truyền thống Huế đã đã có sức cuốn hút sự đồng điệu, mối đồng cảm từ những người thưởng ngoạn. Các tiết mục đại nhạc Tẩu Mã, Mã Vũ, Du Xuân... những bài tiểu nhạc Ngũ Đối thượng, Ngũ Đối hạ, Tiểu Khúc, Long Đăng, Long Ngâm cùng các làn điệu ca Huế... đã tạo cho khán giả Hàn Quốc một không khí mới lạ, truyền cảm. Hình ảnh nón lá Huế, áo dài tím Huế trong tác phẩm  "Nón quê em" cũng hòa sắc sinh động giữa không gian lễ hội chứa chan tình hữu nghị Việt - Hàn. Những chiếc nón bài thơ xứ Huế được tặng cho khán giả ngay sau khi kết thúc phần biểu diễn đã được người Gyeongju hân hoan tiếp nhận với những tiếng cười thân thiện, hiếu khách.

 

Tại lễ hội Rượu và Bánh này, chúng tôi đã được người Gyeongju giới thiệu: "Năm nay, lần thứ 10 lễ hội được tổ chức và mỗi năm càng được làm quy mô hơn. Hướng tới, lễ hội sẽ mang tính quốc tế với sự tham dự của nhiều nước anh em. Nếu như rượu được chế biến bằng phương pháp truyền thống mang sự quyến rũ bằng hương và vị thì bánh được mang tính dân giã khi buồn lúc vui cùng nhau chia sẻ và đã được công nhận là một phong tục đẹp...".

 

Trong một không gian thoáng đạt, cờ hoa rực rỡ muôn hồng ngàn tía, chúng tôi đã có dịp nhìn ngắm những gian hàng giới thiệu từ khâu chế biến đến công đoạn hình thành sản phẩm hàng trăm loại bánh được làm từ gạo tẻ, nếp, khoai tây, ngô, kê, cao lương, chuối... với nhiều hình thức, sắc màu, hương vị khác nhau. Và rượu thì cũng rất phong phú chủng loại được trình bày dưới nhiều loại chai, lít, bao bì, kiểu dáng đẹp mắt thu hút lòng ham muốn của người đến dự lễ hội. Không chỉ được nhìn ngắm mà chúng tôi còn được thưởng thức nhiều loại bánh ngọt mặn, hấp dẫn, được nhâm nhi nhiều thứ rượu đậm đà hương vị.

 

Thành phố Gyeongju ngày nay trong lịch sử đã từng là cố đô thuộc triều đại Sinla kéo dài hàng ngàn năm, được mệnh danh là thành phố "bảo tàng không có mái" hoặc là "bảo tàng mở" với nhiều di tích lịch sử, danh thắng được Unesco công nhận là di sản thế giới như khu lăng mộ Gumwangchong và Cheonmachong, làng cổ Yangdong nằm ở thung lũng Seolchang, đền Bulguk-sa, Đài Thiên văn Cheomseongdae... Với một hệ thống di sản văn hóa thế giới đồ sộ như thế, người dân Gyeongju đã ra sức gìn giữ, bảo tồn cũng như quảng bá, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc một cách triệt để, tích cực. Chính sự trân trọng bảo tồn ấy mà Gyeongju đã trở thành một điểm đến tuyệt vời, kỳ thú của du khách trên thế giới.Cheomseongdau Observatory, Gyeongju

 

Trong những ngày ở Gyeongju, ngoài các chương trình biểu diễn của đoàn, chúng tôi đã được ban tổ chức mời tham quan, học hỏi, tìm hiểu những giá trị văn hóa của một trong những thành phố đẹp của xứ sở Kim Chi.

 

Và qua Gyeongju, tôi không khỏi liên tưởng đến Huế, thành phố cố đô dấu yêu của mình. Huế không những cũng có rượu, bánh độc đáo mà còn nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể vận dụng tổ chức thành lễ hội định kỳ mang tính quốc tế. Để làm được điều ấy, theo tôi Huế đang hướng tới việc định hình một đội ngũ có trình độ chuyên nghiệp cao về festival. Thêm nữa là những người có trách nhiệm luôn tâm huyết, chân thành, có tầm nhìn, tầm nghĩ nhằm tập hợp trí tuệ, chất xám của những người tài hoa bốn phương về với Huế. Một thời Huế là nơi giàu lực hút và tỏa, tôi tin Huế đang nỗ lực để cho lực hút và tỏa ấy ngày càng sung mãn. Cho dù đến phương trời nào trên trái đất này, trong tôi vẫn sáng lên hình ảnh "Hương giang nhất phiến nguyệt" trong bài thơ ngũ ngôn Thu chí của Nguyễn Du và "Trường giang như kiếm lập thanh thiên" trong Hiểu quá Hương giang của Cao Bá Quát. Vầng trăng và lưỡi kiếm. Lãng mạn, trữ tình và hào khí một đời dân sẽ mãi là nguồn sáng tạo cho nghệ thuật lễ hội...

 

Huế, 16-9-2007.

 

MÙA THU TẾ

 

            Tháng bảy âm lịch, trời Huế vào thu. Hoa địa lan bắt đầu nở hồng trong ngôi vườn quê. Những áp thấp nhiệt đới. Những cơn bão xa có khi làm bầu trời Huế tưởng như chùng lại, thấp hơn. Những đám mây màu trắng, những đám mây màu xám đan chen nhau sà xuống gần đỉnh núi Kim Phụng. Bạn bè ngỡ ngàng nói với nhau: Rứa là mùa thu tế đã về!

 

            Tuổi thơ những làng quê thuộc thế hệ chúng tôi gắn liền với bốn mùa cảnh quan đồng nội. Thiết thân với những sinh hoạt hội hè đình đám quanh làng. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất trong tình cảm mỗi người vẫn là mùa thu tế. Xuân thu nhị kỳ, mỗi năm có hai lần tế lễ, nhưng nổi lên vẫn là lễ tế mùa thu, tháng bảy âm lịch.

 

            Mỗi làng đều chọn cho mình một ngày âm lịch trong tháng bảy để tiến hành lễ tế. Như làng Diên Trường, gần cửa Thuận An coi ngày tốt mỗi năm, có khi là ngày 12, có khi là ngày 14. Năm nay, làng Thanh Thủy Chánh, nơi có danh thắng cầu Ngói Thanh Toàn tế ngày ba với nghi lễ trang trọng, lần đầu tiên sau mấy mươi năm có tổ chức lễ nghinh thần, tống thần. Làng An Hòa, Dưỡng Mong, An Truyền (thường gọi là làng Chuồn) thường tiến hành lễ tế vào ngày 16... Tùy theo tính truyền thống, đặc điểm văn hóa, tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi nơi mà thực hiện quy mô tổ chức lễ tế. Nhưng dù quy mô, hình thức nào đi nữa, tựu trung thu tế là ngày hội của dân làng với ý thức sâu xa muôn thuở là xiển dương, bày tỏ lòng biết ơn, ngợi ca ân đức tiền nhân, những vị khai canh, khai khẩn, chư vị thần hoàng, những đấng khuất mặt khuất mày... đã đem hết công sức tạo nên làng xóm ban đầu và làm cho người dân an cư lạc nghiệp từ đời này sang đời khác.

 

     Bây giờ, tuy đã lớn khôn, đã trải qua nhiều thăng trầm, buồn vui trước cuộc đời vốn nhiều đa đoan, hệ lụy, nhưng hằng năm cứ vào “tháng Bảy nước nhảy lên bờ” thì lòng tôi lại cứ bâng khuâng nghĩ về mùa thu tế. Con em dân làng dù thành phần nào trong xã hội khi đi làm ăn, sinh sống tứ xứ trong nước, hải ngoại... đều mong được trở lại quê nhà trong ngày làng tế. Không về được thì gửi tiền bạc hoặc gửi lễ vật về dâng cúng. Lễ vật có khi là áng thờ sơn son thếp vàng, có khi là đồ bát bửu, bộ tam sự bằng đồng, mâm cau trầu rượu... Qua lễ vật, tấm lòng những người xa xứ muốn gửi gắm biết bao nguồn thương yêu thiêng liêng tới miền đất mình đã từng một thời chôn nhau cắt rốn, đã từng đắm hồn trong âm thanh chiêng trống, trong ngào ngạt hưong trầm, hoa lá, trong bàng bạc trăng sương thu...

 

     Theo đà phát triển của đất nước, nhiều mỹ tục mới đã được hình thành trong ngày thu tế. Một số đình làng với truyền thống lịch sử, văn hóa của mình trong những năm tháng dựng nước, giữ nước đã được Nhà nước công nhận là di sản văn hóa quốc gia. Hòa chung vào các nghi lễ truyền thống từ xa xưa để lại, nhiều làng đã tổ chức trao học bổng, quà tặng cho các em học sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó; biểu dương những gia đình hòa thuận, hạnh phúc, nuôi con khỏe, dạy con ngoan… trước sân đình trong không khí trang nghiêm lễ tế. Hồn nước, tình dân, nghĩa khí làng xã từ khung cảnh trang trọng ấy dường như đang góp phần ươm mầm, nuôi dưỡng nhân cách, tâm hồn tuổi thơ nhiều thế hệ thấm nhuần câu “uống nước nhớ nguồn”. Câu “uống nước nhớ nguồn” rất đơn giản nhưng thể hiện cho chu toàn thực không phải dễ.

 

            Về làng An Truyền trong ngày thu tế, tôi thường nhìn ngắm các hương án của các họ tộc trước đình làng, những cổng tam quan rợp cờ ngũ sắc đầu xóm trên suốt dọc đường từ đình ra Đồng Miệu, nơi diễn ra lễ nghinh, tống thần làng vào đình làng trước và sau lễ chánh tế. Đám rước dài với các kiệu lễ, tứ linh, cờ xí, binh khí, lỗ bộ... Đám rước như bồng bềnh trong âm hưởng kèn trống, chiêng. Trong âm hưởng điệu thài của ban tư văn ngân lên hạo khí đất trời.  

 

     Về làng trong ngày thu tế, chợt bâng khuâng nhớ bạn bè một thuở. Cái thuở “Trẻ con làng thường có giấc ngủ vui. Khi lăn lóc trước sân đình thu tế. Khi bụi bặm đụn rơm vàng hương lúa. Khi trên cầu thanh thản ngọn nồm khuya...”. Cái thuở trong khi chờ làng hành lễ, lần đầu tiên cùng bằng hữu biết nâng ly rượu Chuồn và thưởng thức bánh tét, bánh khoái cá kình... thấm đẫm hương vị quê hương vùng đầm phá.

 

     Mùa thu tế! Sống hoài trong tâm thức tôi hình ảnh chuông chùa ngân đồng làng thơm hương cốm. Rạo rực giữa cõi nhớ tôi âm ba hồi trống đình giục vầng trăng về xóm, những câu thài thay tiếng mẹ ru nôi. Rất thương yêu. Mùa thu tế. Xin biết ơn làng!

 

 

 

Huế, 16-9-2007.

 

HUẾ, ĐI GIỮA MÙA HOA

 

      Có lần em hỏi tôi: Về Huế khi mô là thích nhất hở anh? Tôi trả lời em: Về Huế khi mô cũng thích, tùy theo tâm cảm mỗi người. Tuy nhiên vốn yêu hoa tôi đã bảo em nên về trong khoảng tháng tư, tháng năm dương lịch.

 

     Ấn tượng Huế trong khoảng thời gian này là những màu hoa. Hoa nhãn đơm màu nắng, hoa ngô đồng tím chiều thơm, hoa sứ tỏa hương trước sân chùa ngày Phật đản, hoa phượng thắm đỏ những con đường, hoa sen trắng, hoa sen hồng lung linh đón nắng, trao thơm...

 

      Em biết không? Dường như với người Huế, mỗi loài hoa trên là mỗi dòng kỷ niệm riêng tư, là những hồi ức đẹp một thời đã sống, đã gắn bó, yêu thương. Hoa đã đi vào hội họa, nhiếp ảnh, thơ ca, âm nhạc... Hoa được tôn vinh trước cuộc đời.

 

      Đêm tháng ba, lang thang với em trong nội thành, có lần tôi đã chỉ cho em thấy hai vầng trăng đêm cùng xuất hiện. Dưới mặt hồ yên tĩnh thành gương có một vầng trăng. Trên trời cao xanh thẳm có một vầng trăng. Vầng trăng đêm chợt hiện thành đôi. Một của em rực rỡ bên trời. Một của anh mặt hồ lặng lẽ. Trang thơ tình lấp lánh trăng soi. Trăng như thơm bởi sen thành nội. Hương sen thầm trao cho những cuộc tình đang diễn ra lãng mạn dưới những con đường trăng. Nụ hôn thơm như một đài sen...

 

      Lại thêm trong cái heo may vì ảnh hưởng rét nàng Bân từ phương Bắc trôi về, một chiều em đã hỏi tôi về một màu hoa tím như tấm khăn voan choàng lên không gian là loài hoa gì. Hoa ngô đồng tím ngắt chiều thơm. Anh mời em ngắm màu hoa tím. Hiểu nhau rồi tình yêu bất biến. Chim phượng hoàng gọi bạn đậu cành ngô. Cây ngô đồng từ ngàn xưa đã được xưng tụng, ngợi ca trong những áng thơ Đường: "Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri thu"... Một lá ngô đồng rơi ai cũng biết thu về. Hoa ngô đồng tím bên công viên cạnh dòng Hương giang với em, với tôi là tín hiệu mùa xuân đang ở lại bất biến một cuộc tình dài giữa Huế.

 

      Rồi một ngày tháng năm, không hẹn trước với em. Tình cờ hai ta lại gặp nhau trên những con đường nắng. Hoa phượng lung linh ánh lửa trên nền lục diệp của lá phượng rợp tiếng ve ngân. Hoa phượng bay đỏ lối em về. Chiều nội thành dịu dàng bay áo trắng. Dòng Hương xanh chuồn chuồn bay đón nắng. Hoàng hôn đầy thoáng tím mây bay.

 

Huế, 1-9-2007.

 

NGƯỜI HUẾ ĐÓN XUÂN

 

            Mùa xuân về, bên cạnh những thú vui mang bản sắc văn hóa, người dân Huế còn thưởng xuân bằng nhiều cách khác nhau: Người say mê âm nhạc cổ truyền thì thả hồn theo điệu đàn tuyệt kỹ, giọng ca Huế trữ tình với hình ảnh phong hoa tuyết nguyệt, với sao trăng sông nước bằng tâm trạng rạo rực chào xuân hay man mác cảm hoài khi ngắm cảnh sinh tình. Người ham mê võ thuật thì đến với những xới vật mùa xuân tìm cảm giác mạnh hứng khởi xuân tươi. Người chí thú với những giá trị tâm linh mang dấu ấn thiêng liêng một thời khai canh, mở đất thì tìm về lễ hội tín ngưỡng dân gian... Từ những góc nhìn ấy mà bài viết nầy xin trang trọng mời bạn vui xuân cùng Huế.

 

CA HUẾ

 

            Nghệ thuật ca Huế vốn đã từng kén chọn không gian biểu diễn (tịch bất chỉnh bất đàn), thời gian (hoàng hôn bất đàn), thời tiết (phong vũ bất đàn), người thưởng thức ca Huế cũng phải là người chuẩn mực, trang nghiêm (y phục bất chỉnh bất đàn), là tay sành điệu mang tính tri âm, tri kỷ (nhân bất thính bất đàn). Giữa mang mang thanh khí đất trời, trong sắc xuân muôn hồng ngàn tía, ca Huế theo tiết xuân lan tỏa, ngân nga, thấm sâu cái tình dào dạt những hòa âm đẹp, vi tế, thuần khiết, cao nhã, sang trọng đang được chắt chiu, nâng niu, gìn giữ: Mùa hoa nở, nước non càng ngời xanh. Khiến tâm hồn khinh khoái. Xuân gấm thêu ước dệt biết bao tình. (Long ngâm - Vui xuân thanh bình, Thanh Tùng). Giá như được dạo thuyền đêm Nguyên tiêu thì lại càng kỳ ảo, người và thiên nhiên là một, xuân tứ càng dâng: Dạo thuyền lúc gặp trăng. Nước trong ngần một hồ băng. Lời gió rung động muôn rừng. Khi nước mây một vần. Nào là người quen biết. Bóng trăng xa lại gần... (Phẩm tuyết - Dạo thuyền lúc gặp trăng).

 

     Từ mạch nguồn sinh động của quê hương, trong làn khói hương trầm và hương hoa trang trọng, những làn điệu ca Huế bay bổng, dập dìu hơi thở xuân thì xứ sở gợi cảm, gợi tình. Cảnh quan, non nước Hương Bình từ đó được nghệ thuật âm nhạc truyền thống thăng hoa. Giọng hát cung đàn đan thanh hòa quyện với thiên nhiên cẩm tú muôn phương và muôn thuở. Chỉ một đóa hoàng mai cũng trào dâng tứ xuân ca: Tiếng nguyệt cầm lên khoan nhặt, lòng thắp sao trời. Lung linh đêm dài, sáng đường vui. Xuân lai láng, năm tháng xuân hoài. Tình say, nhạc đời say. Hiên ngoài một cánh hoa nở cho đời. Gởi bên lòng mộng lành ngày xuân, sắc trời xanh trong... Mây vờn qua núi xuân mãi xuân tình... (Cổ bản - Một bài ca xuân).

 

            Đến với Huế trong những ngày xuân, Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu... du khách trong và ngoài nước không thể không thưởng thức ca Huế được tổ chức theo dạng thính phòng hoặc du thuyền trên sông Hương. Trong khung cảnh thiên nhiên trữ tình, thơ mộng, nhất là những đêm trăng sáng, làn đông phong nhè nhẹ, êm đềm gợn sóng, mờ ảo sương sa. Hương Giang với vẻ đẹp kỳ ảo được hòa thanh vào cung bổng cung trầm réo rắt và lời ca nữ điệu nghệ ngân êm dễ làm say đắm lòng người: Tiếng ca mềm em trỗi một mầm xanh. Lời ca gọi vầng trăng. Níu ngàn sao bay xuống với đời xanh, bóng đêm xa dần... (Tứ đại cảnh - Lời ca gọi vầng trăng).

 

     Thuyền nhẹ nhàng trôi, dưới nước trên trăng. Những giai điệu đàn khách, nam, hơi dựng, hơi xuân, vui buồn cùng lời ca thanh thoát, khoan thai giàu bản sắc Huế thường tạo cho người nghe một mối đồng cảm tương giao với người biểu diễn; với thiên nhiên và con người Huế trầm lặng mà hiếu khách, dịu dàng mà đắm say. Sự đắm say nghệ thuật của một miền đất văn vật được tiếp truyền từ dĩ vãng và lưu giữ, chuyển tải đến hôm nay.

 

     Giữa mùa xuân đẹp cảnh, sinh tình, dòng sông Hương, con thuyền ca đang đón đợi những tâm hồn đồng điệu. Xin trang trọng mời người!

 

  

 

 HỘI VẬT LÀNG SÌNH

 

            Từ quan niệm “một linh hồn minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện”, tinh thần thượng võ cũng là điều mà người dân Huế thường quan tâm hướng tới mà tiêu biểu là Hội vật làng Sình trong những ngày đầu xuân mới.

 

            Như đã thành lệ, hàng năm cứ vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, làng Sình - tên chữ là Lại Ân, thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế - một ngôi làng nằm bên hữu ngạn, phía hạ lưu sông Hương lại diễn ra hội vật. Dân gian Thừa Thiên Huế quen gọi là Hội vật làng Sình. Hội vật làng Sình bên cạnh yếu tố tâm linh, mang giá trị truyền thống dân tộc còn được thể hiện ý chí mong muốn người dân Lại Ân luôn sung sức, khỏe mạnh, rèn luyện cho đàn ông, thanh niên làng được cường tráng cùng đức tính dũng cảm, tự tin, giàu có niềm tự hào quê hương, xứ sở; làng mạc thanh bình, yên ổn, ruộng đồng tươi  tốt, ngành nghề phát triển - Lại Ân còn nổi tiếng với dòng tranh tín ngưỡng: tranh làng Sình.

 

     Ngày diễn ra hội vật mới thật sự là ngày người dân làng Sình ăn Tết. Cùng với xới vật, nơi hội tụ đông đảo đô vật của nhiều vùng đất võ về là sự hiện diện nhiệt thành của ông già bà lão, của nam thanh nữ tú, tuổi thơ từ thành phố Huế, từ các vùng phụ cận về trảy hội. Mơn man gió sông Hương tràn sắc nắng. Trống làng vang giục giã tứ phương về. Cờ xí rợp sân đình cao xới vật. Người chưn người áo nối cạnh thâm the... Do xới vật nằm bên bờ sông Hương nên thuyền bè cũng tấp nập vào ra, rộn ràng tiếng nói cười du khách. Trước sân đình làng Lại Ân cờ xí phần phật bay trước gió sông Hương. Vui nhất là từ hôm trước và trong ngày diễn ra hội vật, các điểm trò chơi dân gian cũng đã thu hút nhiều khách xuân đến cùng chơi. Đồng thời, khắp nơi trong làng nổi lên hình ảnh các mệ, các o tất bật luôn tay trong các hàng quán cơm hến, bún bò, bánh bèo, bánh nậm, bán bột lọc, bánh ướt, bánh ram ít, bánh tét, cháo lòng, bánh canh, chè... để làm vui lòng thực khách. Đến với đất võ mà không “thời” vài món đặc sản Huế thì chuyến du xuân về làng Sình làm sao trọn vẹn. Ngày hội vật làng Sình luôn sống động. Mái đình xưa truyền thống một đời dân. Con thuyền trôi giọng hò ngân sóng nước. Trai thượng đài gái trảy hội mùa xuân...

 

LỄ HỘI CẦU NGƯ

 

            Mùa xuân Huế, còn có một lễ hội khác mang tính cách tín ngưỡng dân gian nhưng không kém phần sinh động, giàu thanh sắc, hương xuân. Đó là Lễ hội Cầu ngư tại làng Thai Dương Hạ, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhằm suy tôn vị Thành hoàng của làng là ngài Trương Quý Công (biệt danh của Trương Thiều), gốc Thanh Hóa, là người có công dạy cho dân làng Thai Dương nghề đánh bắt thủy hải sản và nghề buôn bán ghe mành, ngư cụ để đem lại sự no ấm, sung túc, thịnh vượng cho dân làng. Lễ hội Cầu ngư làng Thai Dương Hạ bao gồm các nội dung sinh động, nhiều màu sắc dân gian như lễ tế thần linh, tri ân các bậc tiền hiền, lễ cầu ngư và lễ hội đua chải.

 

Lễ tế thần diễn ra khoảng 2 giờ sáng ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Một bài văn tế được dâng lên các vị thần linh và các bậc tiền bối của làng, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đánh bắt cá được mùa, dân làng no ấm, sung túc, thịnh vượng, mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc. Đêm cầu ngư rộn rã trống chuông. Đình Thai Dương hương trầm nghi ngút. Cờ xí rợp gió lên phần phật. Khuya thiêng liêng giao cảm đất trời... Khoảng 4 giờ sáng lễ chánh tế kết thúc.

 

            Tiếp sau đó là phần hội Cầu ngư. Có nhiều màn hoạt cảnh mô tả những sinh hoạt nghề biển. Trò diễn "bủa lưới" là màn diễn về nghề mang đậm tính chất lễ nghi. Tiếp theo trò bủa lưới bắt cá là màn trình diễn của các ngư dân bán thủy hải sản cho các "bà rỗi" (người bán cá) đang chờ sẵn. Màn mua bán kéo dài khoảng hơn một giờ.

 

Dô ta nào!

 

Lưới bủa nơi nơi

 

Dô ta nào!

 

Lưới câu giăng thả

 

Nào nhám, nào thu, nào ngừ... đủ cả

 

Nào mực, nào tôm, nào vọ... đầy thuyền.

 

            Chương trình ngày hội được tiếp tục bằng cuộc đua chải trên phá Tam Giang. Cuộc đua mang ý nghĩa cầu cho no ấm, vừa được mùa cá, vừa được mùa lúa, thỏa mãn ước vọng no ấm của cư dân; đồng thời thể hiện sức mạnh của người dân biển trước đại dương bao la:

 

Dô ta nào !

 

Thuyền ta ra khơi

 

Sóng biển xuân hồng hào sức trẻ

 

Dô ta nào!

 

Thuyền ta mạnh mẽ

 

Lướt đại dương mở hội trùng dương.

 

            Lễ hội Cầu ngư đúng là ngày hội của cả cộng đồng người quê biển, vừa dào dạt lòng yêu nghề, tràn đầy nguồn lạc quan trong cuộc sống, vừa chứa chan hy vọng giữa mùa xuân. Lễ hội là nguồn cổ vũ cho ngư dân có thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn trong nghề biển nước mênh mông, gió to sóng cả. Hội Cầu ngư thành nét xuân tươi. Hồn dân tộc đơm mầm trỗ lộc. Mừng bội thu ngư dân mình đậm da xanh tóc. Mặt trời lên từ phía Thai Dương...

 

 MƠN MỞN XANH

 

       Tối nay tôi vô Sài Gòn. Sáng nay tôi một vòng quanh Huế. Tôi tìm thăm nhà văn Nhật Chiêu mới từ Sài Gòn ra đang ngồi ngắm dòng sông Hương cà phê sáng ở Trúc Viên. Tôi nói với anh bên kia là Cồn Hến. Rặng hoa trắng kia là sầu đông. Tiếc là cách một dòng sông nên anh không tiếp nhận được làn hương sầu đông ban mai. Lá sầu đông rụng vàng ngày đông, cho hoa trắng đan mùa xuân tím, đến rồi đi tình yêu ẩn hiện, hương sầu đông tìm em giêng hai…

 

      Hôm nay chủ nhật, lại là ngày 8- 3. Những con đường Huế chợt đông vui nam thanh nữ tú. Du khách đa sắc màu ung dung trong khí trời se lạnh. Lại thêm Huế đang lung linh, óng ánh muôn sắc hoa. Hoa của sinh viên bày bán khắp nơi, trên những cung đường Huế tôi qua cho những tấm lòng yêu thương, trân trọng phụ nữ trên thế gian này.

 

      Dường như thời tiết Huế đang ngầm chiêu đãi nhà văn Nhật Chiêu trong những ngày anh ghé Huế. Dường như thời tiết Huế cũng chiêu đãi tôi, một kẻ sắp lại rời xa Huế lâu ngày. Không nắng, không mưa, bầu trời như thấp xuống. Trong gió có hương. Có lẽ anh Nhật Chiêu thì vui, còn tôi lại thấy buồn. Nỗi buồn không viết ra nhưng chắc ai cũng hiểu…     

 

     Tôi lại nói với nhà văn Nhật Chiêu anh nhìn xem những tàng cây Huế. Đúng là mơn mởn xanh. Hàng long não, hàng cây muối, những gốc bồ đề trên đường Lê Lợi, trong công viên Huế có một vẻ đẹp diệu kỳ. Màu xanh non tơ của lá thành màn voan mỏng cho tôi cảm giác mềm mại, êm đềm, trìu ái. Màu lá non bằng lăng thì khác. Sắc lá xanh pha nâu trông rất trẻ thơ, tươi tắn. Mùa xuân tái hiện thật rõ nét, hài hòa trong cây lá thảo hoa thiên nhiên Huế. Mùa xuân thơm hương bưởi. Mùa xuân ngát sầu đông…

 

     Thế mà tối nay tôi lại rời xa nơi chốn ấy. Những cuộc đi chưa biết ngày về. Bâng khuâng. Bối rối.

 

    Những con đường Huế. Những con đường thơm. Những con đường hoa. Những con đường trăng… Tất cả đang lùi xa cho những con đường lạ tới gần ngậm ngùi, u hoài phía trước.

 

    Mai mốt ở Sài Gòn ai về Huế nhớ làm ơn cho tôi gởi tình về theo.

 

    Ai ấy đừng quên nghe! Đừng quên hí!

 

   Huế giữa lòng. Mơn mởn xanh!

 

Huế, 9-3-2009.

 

MIỀN TÂY VÒNG TAY THÂN ÁI

 

 

 

     Từ ngày 4 - 14- 8- 2009, đoàn văn nghệ sĩ Huế gồm 27 thành viên với các chuyên ngành văn học, văn nghệ dân gian, mỹ thuật, nhiếp ảnh, kiến trúc, sân khấu đã được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức "trại sáng tác bay" tại một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tôi may mắn được làm một thành viên trong đoàn và bài viết “LONG AN - Rượu Gò Đen em rót men tràn”, “BẾN TRE - Ấn Tượng danh nhân!” là hai trong những hồi ức đẹp về chuyến đi dài về miền Tây, vòng tay thân ái.

 

LONG AN – RƯỢU GÒ ĐEN EM RÓT MEN TRÀN

 

Huyện Châu Thành, Long An là điểm đến đầu tiên của đoàn. Câu khẩu hiệu trang trọng trên hội trường "Nhiệt liệt chào mừng đoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế" thể hiện sự trọng thị, tình cảm ưu ái của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và đồng bào huyện Châu Thành dành cho văn nghệ sĩ Huế. Các thành viên trong đoàn ai cũng thấy ấn tượng, xúc động. Những thành tựu phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Châu Thành do lãnh đạo Huyện báo cáo, phản ánh với đoàn đã được hầu hết văn nghệ sĩ ghi chép đầy đủ, trang trọng và không khỏi khâm phục trước những nỗ lực của người dân Châu Thành trong quá trình xây dựng quê hương. Một trong những mô hình đang được huyện Châu Thành đầu tư thích đáng nhằm tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương, nâng cao đời sống một bộ phận nhân dân là trồng thanh long xuất khẩu. Nhìn khu vườn thanh long mênh mông nơi đây tôi không khỏi liên tưởng đến bạt ngàn thanh long Bình Thuận. Thanh long quê mình đã bay ra khỏi vuông trời Việt, đã ngọt ngào hương trên nhiều miền nơi hải ngoại xa xôi, mở ra niềm hy vọng của người nông dân Châu Thành.

 

     Bảo tàng huyện Châu Thành tại Tầm Vu là điểm tham quan tiếp theo của đoàn, nơi đây lưu giữ nhiều tư liệu lịch sử, cách mạng, văn hóa, kinh tế... trong đó có nguồn tư liệu giá trị của nghệ sĩ Cao Văn Lầu, người con đất Long An, soạn giả tác phẩm Dạ cổ hoài lang bất hủ. Trước chân dung nghệ sĩ tài danh Cao Văn Lầu tôi thầm mong Thừa Thiên Huế mình rồi đây cũng sẽ có bảo tàng dành cho văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế, nơi lưu giữ những công trình, tác phẩm nghệ thuật, tư liệu về cuộc đời thân thế, sự nghiệp văn nghệ sĩ tiền bối đã mất hay đang còn sống. Hiện nay Thừa Thiên Huế chỉ mới quan tâm những công trình, tác giả mang tính đối ngoại như nhà trưng bày tác phẩm điêu khắc Điềm Phùng Thị, Trung tâm Lê Bá Đảng... mà chưa thật sự chú ý đến việc đầu tư, xây dựng một bảo tàng văn học nghệ thuật dành cho văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế. Có tiếng bấc tiếng chì về việc đối nội đối ngoại chưa tương xứng của tỉnh trong giới văn nghệ sĩ và công chúng Thừa Thiên Huế vốn yêu thích các loại hình văn học nghệ thuật cũng là điều tất nhiên thôi!

 

     Trên đường về lại Long An, đoàn ghé thăm nhà nữ sĩ Đinh Thị Thu Vân, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Long An, tôi và Đinh Thị Thu Vân chỉ gặp nhau được đôi lần nhưng tình văn nghệ lại thân tình, trang trọng. Tại ngôi nhà xinh đẹp này tôi được Đinh Thị Thu Vân tặng tập thơ Một ngày ta ngoái lại  với dòng chữ "Em tặng anh Võ Quê". Và tôi thầm hẹn "một ngày ta trở lại!"

 

     Rời ngôi nhà xinh đẹp của nhà thơ Đinh Thị Thu Vân, đoàn ghé thăm hăm hai ngôi nhà cổ tại ấp Thanh Tân, huyện Châu Thành. Hai công trình này đã được các hội viên hội Kiến trúc sư Huế quan sát, ghi chép, chụp hình tương đối kỹ và không ngớt trầm trồ về các giá trị kiến trúc. Cả hai ngôi nhà này rất cổ kính, có tuổi thọ gần một trăm năm, kiến trúc độc đáo, nội thất rất đẹp với nhiều công trình nghệ thuật tinh xảo, chạm trổ kiệt xuất, công phu. Hai ngôi nhà cổ này đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Đã nhiều năm qua phải chịu cảnh nắng mưa hành hạ. Đây cũng là hoàn cảnh, số phận chung của nhiều ngôi nhà cổ hiện nay trong cả nước đang bị xuống cấp tệ hại nhưng sự quan tâm của các cấp, các ngành có trách nhiệm thì còn quá xa vời trước sự bức xúc của người dân. Được biết sau này khi trở lại Huế nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã kịp thời đưa lên báo Tuổi trẻ một bài viết tâm huyết với ước mong chính quyền sở tại quan tâm đến số phận của hai ngôi nhà cổ ấy.  

 

      Rời những điểm tham quan huyện Châu Thành, buổi chiều đoàn đi thăm Đồng Tháp Mười trong tâm trạng háo hức của nhiều người, trong đó có tôi. Từ lâu, phần lớn văn nghệ sĩ Huế chỉ biết Đồng Tháp Mười qua sách báo, phim ảnh. Hôm nay đến với thực địa, đôi mắt được ngắm nhìn cảnh sắc. Bàn tay được chạm lên chiếc lá tràm xanh; được nghe gió lộng hương tràm, tôi biết trong đoàn sẽ không ít người như tôi cũng dâng lên mối cảm hoài, lòng biết ơn hào khí của những con người một thời mở đất phương Nam.

 

       Trước khi đoàn rời Long An sang Bến Tre bằng chuyến phà đêm, Chi hội Kiến trúc sư Việt Nam mời đoàn dùng cơm thân mật gọi là chúc mừng đoàn Huế tiếp tục hành trình về  miền Tây thân ái. Lâng lâng. Ngất ngây. Rượu Gò Đen em rót men tràn là đây! Tình văn nghệ vô hạn, vô cùng!

 

     Kiến trúc sư Lưu Đình Khởi, Chi hội trưởng, Giám đốc Sở Giao thông Long An là người cách đây trên mười năm đã từng cùng tôi lênh đênh trên sông Hương nghe ca Huế đến nửa khuya. Anh Lưu Đình Khởi nhiệt thành kể lại chuyện xưa. Với tôi chuyện cũ bao giờ cũng mới. Tôi thiệt tình nói với anh: Long An có một văn nghệ sĩ làm giám đốc Sở Giao thông là một hạnh phúc cho những con đường. Cho những công trình giao thông lớn nhỏ. Những con đường, những cây cầu, những dòng sông trên mảnh đất Long An sẽ được chăm sóc kỹ hơn, có nghệ thuật, nhân văn hơn nhằm giảm thiểu phần nào tai nạn giao thông đang là nỗi nhức nhối của cả nước; những bảng tên đường, tên cầu cũng sẽ chuẩn xác, không nhầm lẫn, sai sót. Anh Khẩn cười hiền: Mình cố gắng được chừng nào hay chừng ấy thôi! 

 

BẾN TRE -  ẤN TƯỢNG DANH NHÂN!

 

    Tối 6- 8- 2008, đoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế cương quyết lắm mới từ giã được Long An lúc 18 giờ. Để chiêu đãi đoàn Huế, ngoài chuyện ẩm thực Chi hội Kiến trúc sư Long An đã bố trí sẵn một dàn Karaoke tại chỗ. Tôi được họa sĩ Đặng Mậu Tựu đề nghị thay mặt đoàn đọc một bài thơ đáp lễ tấm thịnh tình của văn nghệ sĩ Long An. Thơ không chuyển tải hết được sự tri ân của đoàn Huế trước tấm lòng hiếu khách của Long An. Đành phải "dứt áo ra đi", trực chỉ phà Rạch Miễu. Bến Tre đang cách một dòng sông.

 

     Trước khi đến Bến Tre, tôi đã điện thoại với Vũ Hồng thông tin về chuyến "sáng tác bay" của văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế, Vũ Hồng đã kịp thời đưa tin lên Website Văn nghệ Đồng bằng sông Cửu Long, Vũ Hồng cũng cho tôi số điện thoại của nhà văn Hồ Trường Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bến Tre và cho biết vì có việc lên Sài Gòn trong thời gian đoàn Huế đến. Thế là tôi sẽ không được gặp Vũ Hồng ở Bến Tre. Tiếc ơi là tiếc! Tuy mới thân quen Vũ Hồng mấy năm trở lại đây nhưng tôi đã đọc Vũ Hồng nhiều và rất quý mến con người tài hoa ấy. 

 

     Ban lãnh đạo Hội Văn học nghệ thuật Bến Tre gồm nhà văn Hồ Trường, Chủ tịch Hội, nhà thơ Kim Ba, Phó Chủ tịch Hội, nhà văn Nguyễn Nhật Nam, Chánh văn phòng Hội chờ đoàn văn nghệ sĩ Huế đến trong đêm. Đang trong thời điểm bề bộn lo đăng cai tổ chức Liên hoan Mỹ thuật Khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ khai mạc trong vài ngày tới; chỉ bằng điện thoai, không có văn thư gửi trước thông tin về thời gian, mục đích yêu cầu chuyến đi của văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế nhưng các anh lãnh đạo Hội Bến Tre vẫn ưu ái nhiệt tình dành thời gian để tiếp đón đoàn. Trong đêm mưa Bến Tre mát lạnh, trước cổng vào khu triển lãm Mỹ thuật Bến Tre, bên ly rượu chuối hột ấm men tình văn nghệ, họa sĩ Đặng Mậu Tựu, nhà thơ Nguyễn Thiền Nghi, nhà văn Hồ Trường, nhà thơ Kim Ba, nhà văn Nguyễn Nhật Nam và tôi chén tạc chén thù mừng cuộc gặp nhau bất ngờ trên quê hương đồng khởi. Mừng ngày mai đoàn sẽ có một chuyến thực tế tham quan thú vị khi sẽ được đến thắp hương tưởng niệm trước anh hồn các danh nhân Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, Pétrus Ký, Nguyễn Thị Định... được vào miệt vườn Cái Mơn biêng biếc xanh và ngan ngát hương.  

 

Trong suốt thời gian đưa đoàn đi tham quan các thắng tích Bến Tre, nhà văn Nguyễn Nhật Nam đã rất sôi nổi nhiệt tình cung cấp cho đoàn nhiều chuyện hay về sông nước Bến Tre, về những giai thoại “ông già Ba Tri”, về lai lịch, xuất xứ từng địa danh, tên cầu, tên rạch… gắn liền với các sự kiện thời Nguyễn Phúc Ánh bôn ba gian khổ, hiểm nguy trước sự truy đuổi của Tây Sơn. Qua những câu chuyện kể, Bến Tre càng trở nên hấp dẫn kỳ thú và có sức cuốn hút tôi trên mỗi cung đường.

 

Khi dâng nén tâm hương trước bàn thờ Nguyễn Đình Chiểu, tôi có cảm giác anh linh, hồn thiêng ông Đồ mù đang hiện hữu nơi đây. Đang sáng lên dũng khí, bút lực  một nhà giáo, nhà thơ trước nỗi đau mệnh nước thăng trầm. Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm. Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Câu thơ thành một tuyên ngôn cho mọi người, mọi thời, mọi nơi chốn.

 

Câu thơ thành ngọn lửa soi rọi tâm hồn, tuổi trẻ thế hệ tôi để có những năm tháng đấu tranh trên mặt trận đường phố, chống bạo quyền bất công áp bức, đòi hòa bình, đòi thống nhất đất nước.  

 

     Rời khu lăng mộ Nguyễn Đình Chiểu, tôi đến với khu lăng mộ Phan Thanh Giản bằng sự háo hức bởi hiện nay mọi người đã được đến viếng một công khai minh bạch, không còn lén lút, sợ hãi như trước đây. Không còn lén lút, sợ hãi có nghĩa là Phan Thanh Giản đã được vinh danh. Trong tâm thức tôi Phan Than Giản là một người có tính tình cương trực và thanh liêm, là một nhà thơ với nhiều tác phẩm để đời. Những năm đi thi hội, ông có làm tập thơ Du kinh. Khi người bạn là Lê Bích Ngô chết, ông có tập Toái cầm. Thời gian đi sứ sang Trung Quốc, có tập Kim đài (1832). Khi đi sứ sang Pháp để thương lượng chuộc lại ba tỉnh miền Đông, ông viết Sứ trình nhật ký (1863). Hầu hết các sáng tác của Phan Thanh Giản sau này được tập hợp lại trong hai bộ sách Lương Khê thi thảo (in 1876) có 103 bài. Cả hai tập bao gồm nhiều thể loại văn học. Về thơ, có thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ tả cảnh và vịnh người, vịnh vật trên đường đi sứ. Về văn, có các thể loại tấu, sớ, biểu, luận, thuyết, tựa... làm trong suốt thời gian ông làm quan, trong số đó có bài sớ gửi vua Tự Đức trước khi chết.

 

     Nhờ được đến khu lăng mộ Võ Trường Toản mà tôi mới có dịp hiểu kỹ thêm thân thế một người con đất Thừa Thiên Huế đã có những cống hiến cho vùng đất Nam Bộ. Võ Trường Toản hiệu là Sùng Đức, quê làng Thanh Kệ, dinh Quảng Đức (nay thuộc huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), sau vào Nam, ngụ tại huyện Bình Dương, phủ Gia Ðịnh (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông nổi tiếng là một người thầy đạo cao, đức trọng, uyên bác. Trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn, mở trường dạy học, không tham gia vào chính sự. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Ðức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Ðịnh, Ngô Tùng Châu, Phạm Ðăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn, v.v...

 

     Nguyễn Phúc Ánh rất mến mộ ông, nên mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến giảng sách, đàm đạo. Nguyễn Phúc Ánh muốn trọng dụng ông, nhưng ông khéo léo từ chối, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc. Võ Trường Toản được các sĩ phu Nam Bộ tôn là "Thái sơn Bắc đẩu", là "Gia Định xử sĩ". Tác phẩm của Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc hết, chỉ còn lưu truyền bài "Hoài cổ phú", viết bằng quốc âm, dài 24 câu. Ông mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7, 1792). Để tưởng nhớ công đức của ông, học trò cũ đã viết đôi liễn:

 

Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

 

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong.

 

(Dịch nghĩa: Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có. Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất). 

 

     Hài cốt ông lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, huyện Bình Dương. Năm 1855, Phan Thanh Giản tâu xin lập miếu thờ ông tại làng Hòa Hưng. Sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), Phan Thanh Giản cùng với đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông, hiệp trấn An Giang Phạm Hữu Chánh, cùng với nhiều sĩ phu khác đứng ra lo việc cải táng Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh, Ba Tri, Bến Tre, với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng Pháp tiến chiếm. 

 

     Trong bài viết Đội quân tóc dài Bến Tre ngày ấy, người phụ nữ Bến Tre bây giờ của Lê Quang Nhung có đoạn viết: “Trên đất Bến Tre, ta bắt gặp không ít địa danh mang tên “Bà”: Rạch Bà Nhựt, Bà Hiền, Bà Giải. Giồng có giồng Bà Nhiên, Bà Khắc, Bà Thủ. Cồn có cồn Bà Tư, Bà Tam, Bà Thiết. Cầu cũng có cầu Bà Mụ, Bà Vụ, Bà Ba Ngởi. Chợ có chợ Bà Khoai, Bà Hiền, Bà Điểm… Đó là cách đặt tên để ghi công các “bà” giỏi giang trong khai hoang, lập ấp, giữ làng.”. Còn hôm nay tôi vui mừng được đến viếng  một địa danh được hình thành từ thế kỷ 20: Đền thờ bà Nguyễn Thị Định, người mà năm 1959 đã khởi xướng và lãnh đạo phong trào Đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre và lan rộng ra khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, hình thành "Đội quân tóc dài" nổi tiếng. Khí phách của bà con thơm mãi đài hoa.

 

     Trên đường về phà Đình Khao để qua Vĩnh Long, Cái Mơn là một điểm đến lý tưởng với những vườn cây trái xanh tươi. Khu lưu niệm Pétrus Ký tọa lạc bên cạnh những ngôi vườn mơn mởn ấy. Tuy được bài trí đơn giản, không huê dạng nhưng sự có mặt của khu lưu niệm đã nói lên được lòng tri ân của người dân Cái Mơn đồng thời khẳng định tầm vóc và vai trò quan trọng trong hoạt động văn hóa quốc tế của nhà bác học về ngôn ngữ này. Lại một nén tâm hương thương tưởng về người. Lòng tôi dường đang có nắng thiên ân trong chiều Cái Mơn.

 

     Một ngày Bến Tre với chuyên đề viếng lăng mộ các danh nhân đã tạo nên một nét độc đáo, đầy tình cho đoàn văn nghệ sĩ Huế. Chuyên đề này đã thành một tour du lịch hành hương của xứ dừa. Có dịp vượt hàng ngàn cây số để tìm viếng nơi an nghỉ của các bậc tiền nhân là một hạnh phúc cho những người làm văn nghệ trên mọi miền đất nước. Riêng tôi, tôi còn mong thêm những lần về. Vâng, chắc chắn tôi sẽ về. Về với Bến Tre - ấn tượng danh nhân!

 

 Huế, 3-9-2008.

 

MỪNG HUẾ CÓ CON ĐƯỜNG TRINH CÔNG SƠN

 

Như một cơ duyên, trong những ngày tháng 3-2011, một số tỉnh, thành phố của cả nước đang quảng bá, chuẩn bị các hoạt động âm nhạc kỷ niệm mười năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1-4- 2001 - 1- 4-2011) thì tại phiên họp tổng kết nhiệm kỳ khóa V (2004 - 2011) Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ra nghị quyết đặt tên cho 68 con đường ở thành phố Huế, trong đó có con đường mang tên Trịnh Công Sơn, trước niềm hân hoan, phấn khởi của công chúng yêu nhạc Trịnh.

 

            Đường Trịnh Công Sơn được mô tả khái quát tại phụ lục 1 và phụ lục 2 của đề án đặt tên đường phố đợt VI (năm 2010) ở thành phố Huế như sau: “Điểm đầu tiếp giáp đường Chi Lăng, điểm cuối là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, vị trí thuộc phường Phú Cát. Chiều dài: 600m, nền đường: 11,5m, mặt đường: 7,5m, loại mặt đường: bêtông nhựa” (phụ lục 1)…”Đề án lựa chọn đường bờ sông Hương vừa được xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đặt tên cho một trong những nhạc sĩ lớn của nền tân nhạc Việt Nam: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Con đường này nằm cạnh dòng Hương giang thơ mộng, phù hợp với tâm hồn, tính cách  của người nhạc sĩ tài hoa, người con yêu dấu của xứ Huế” (phụ lục 2).

 

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên - Huế đặt tên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho một con đường mới, đẹp bên cạnh sông Hương là một việc làm rất “đắc nhân tâm”, phù hợp với nguyện vọng tha thiết lâu nay của giới văn nghệ sĩ cũng như công chúng yêu nhạc Trịnh Công Sơn.

 

Từ những ngày đầu đặt tên đường phố đến nay, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Huế cũng như tỉnh Thừa Thiên - Huế đã rất công tâm khi lưu ý đưa tên nhiều văn nghệ sĩ tài hoa, tâm huyết, có nhiều thành tích đóng góp vào sự phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam thành tên những con đường.

 

Số đường mang tên văn nghệ sĩ chiếm tỉ lệ không nhỏ trong danh mục tên đường đã được đặt và sẽ đặt trong tương lai ở Thừa Thiên - Huế. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ Ngô Kha, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ba danh nhân có con đường nằm bên cạnh sông Hương.

 

Con đường mang tên Trịnh Công Sơn còn có một điểm rất thú vị, hữu duyên, hữu tình là được nằm trong một không gian thi ca xứ Huế. Con đường như được ôm ấp bởi một vòng nôi của thơ và ca dao với những địa danh mà phía đầu đường Trịnh Công Sơn là các tên gọi thân quen:

 

Ấy là cầu Trường Tiền, một thắng cảnh trên đất cố đô đã đi vào văn học nghệ thuật bằng ca dao, thơ văn, câu hò, điệu hát, hội họa, nhiếp ảnh…

 

Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Em đi không kịp tội lắm anh ơi!
Bởi vì ai em phải mang tiếng chịu lời
Có xa nhau đi nữa cũng tại trời mà xa…

 

Ấy là bến đò Đập Đá hằng ngày đưa khách sang sông, và ban đêm thì man mác nguồn thương yêu vô hạn cùng mối tình non nước trong làn điệu hò mái nhì gợi cảm:

 

Đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá
Đò về Vĩ Dạ thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ bóng xế trăng chênh
Theo nhau cho trọn mối tình nước non.

 

Ấy là cảnh quan cổ kính, trang nghiêm của ngôi chùa Diệu Đế tịnh yên, u tịch giữa hai cây cầu nhỏ bên dòng sông đào Gia Hội:

 

Đông Ba Gia Hội hai cầu
Ngó qua Diệu Đế trống lầu giá chuông.

 

Về phía hạ nguồn sông Hương, con đường Trịnh Công Sơn gần với chợ Dinh và bên kia cầu Chợ Dinh là Nam Phổ qua câu hò ru em trìu ái, người Huế dường như ai cũng nằm lòng:

 

Ru em cho thét, cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai,

 

Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim…

 

Bên phải con đường Trịnh Công Sơn là Cồn Hến, là Vỹ Dạ soi bóng cùng dòng Hương trong xanh mà Hàn Mặc Tử đã vẽ nên từng nét đan thanh:

 

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

 

Với đặc điểm này, con đường Trịnh Công Sơn càng trữ tình, nên thơ hơn bởi đang được ấp yêu bằng cái hồn Huế đậm đà từ lời ru dân dã bình yên đến những dòng thơ hiện đại. Một hôm nào đó, tình cờ hay hữu ý, khi bạn đặt chân lên con đường Trịnh Công Sơn này, có lẽ bạn sẽ thấy xao xuyến, cảm hoài vì được lắng sâu trong từng cung bậc thi ca.

 

Đã có con đường mang tên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên thành phố Huế!

 

Đây là niềm vui lớn của biết bao người yêu nhạc trong nước và hải ngoại. Tôi đang hình dung con đường Trịnh Công Sơn một khi đã hoàn thành với công viên dọc bờ sông Hương sẽ được mọi người yêu nhạc Trịnh dốc lòng chăm chút tạo nên một không gian Trịnh Công Sơn mới.

 

Tôi tưởng tượng từ công viên này, đêm đêm tiếng đàn guitar bập bùng hòa thanh cùng giai điệu Trịnh sẽ được ngân vang diệu vợi. Tôi tưởng tượng rồi cũng sẽ có những khoang thuyền Huế hát nhạc Trịnh Công Sơn từ khúc sông này như sông Hương đang từng đêm bềnh bồng ca Huế.

 

`           Khánh Tùng, một cô giáo khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Huế, cũng có ý tưởng hay khi mừng Huế có con đường mang tên Trịnh: “Giá như các quán cà phê dọc con đường Trịnh Công Sơn bên cạnh việc mở nhạc Trịnh đều chọn tên một ca khúc Trịnh Công Sơn để đặt tên cho quán của mình thì hay lắm!”.

 

Và không chỉ riêng Khánh Tùng mà có lẽ còn nhiều người yêu nhạc Trịnh khác cũng đang có những ý tưởng hay, mới về một không gian Trịnh trên con đường này. Các thế hệ yêu nhạc Trịnh sẽ cùng nhau quần tụ trong khung cảnh gió mát trăng trong, giữa đất trời tự tại để hát ca, thương quý, trân trọng cuộc đời luôn bát ngát quỳnh hương, để chiêm nghiệm, sống tốt, sống đẹp mà dạt dào yêu dấu nhau hơn khi nhận biết tất cả kiếp người phù sinh chỉ là cát bụi, là một cõi đi về thánh thiện, vĩnh hằng.

 

Một số ca khúc Trịnh Công Sơn đã viết về những con đường Huế. Không có chữ Huế nào trong ca từ Trịnh Công Sơn nhưng hình ảnh con đường phượng bay mù không lối vào; hình ảnh hàng long não lung linh biêng biếc xanh trước ngôi nhà Trịnh ở đường Nguyễn Trường Tộ gần nhà thờ Phủ Cam; hình ảnh từng cung đường ngày đêm trên thành phố Huế lưu dấu chân Trịnh hằng qua… đã hình thành một Huế với những con đường có chiều sâu nội tâm, có buồn vui, nước mắt, nụ cười… trước dòng đời.

 

Nay Huế đã có thêm một con đường mới mang tên Trịnh, con đường được bà con lao động, thợ thuyền dọc bờ sông Hương đồng tình di dời sang một nơi ở mới góp phần chỉnh trang đô thị, giúp Huế có thêm những công trình mới, đẹp, phong quang.

 

Từ thời điểm này, bà con lao động, thợ thuyến ấy chắc lòng cũng thấy ấm áp, hoan hỉ hơn khi bà con được biết nơi mình đã từng được sinh ra, từng sống với vô vàn kỷ niệm thăng trầm trong cuộc mưu sinh đã thành một con đường đẹp với tên gọi con đường Trịnh Công Sơn.

 

Âm vang nào, ca từ nào của các tài hoa xứ Huế sẽ sáng tạo thành tác phẩm viết về con đường mang tên Trịnh như Trịnh đã từng ngợi ca những con đường Huế? Thời gian rồi sẽ trả lời về điều ấy và chúng ta tin tưởng, chờ đợi một sự kế thừa từ Huế.

 

Riêng giờ đây, xin mừng Huế đã có một con đường mang tên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn!

 

 Huế, 5-4-2011.

 

FESTIVAL HUẾ 2006 HỮU NGHỊ VÀ THƯƠNG YÊU 

 

Tiếp tục phát huy thành quả của Festival Huế 2000, 2002, 2004; hướng đến việc xây dựng Huế trở thành một thành phố Festival của Việt Nam, Festival Huế 2006 với chủ đề “700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế, Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” diễn ra từ ngày 3 đến ngày 11-6-2006 đã thành công mỹ mãn. Festival Huế 2006 là một lễ hội văn hóa du lịch quốc tế, một diễn đàn sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tiêu biểu của Việt Nam và khu vực, giàu bản sắc văn hóa Việt Nam, văn hóa Huế; đồng thời gắn với mở rộng các hoạt động giao lưu, tăng cường tình hữu nghị quốc tế, phát triển kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam đạt những thành tựu mới.

 

     Đến với Festival Huế 2006, công chúng Thừa Thiên Huế, du khách trong và ngoài nước đã có dịp chứng kiến, thưởng ngoạn một cuộc quảng diễn nghệ thuật hoành tráng, sôi động, đa sắc màu cùng những hòa âm đẹp. Nhiều chương trình nghệ thuật Việt Nam hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc được thực hiện mà tiêu biểu là Lễ khai mạc, Lễ bế mạc với chương trình nghệ thuật diễn xướng tổng hợp, có quy mô lớn, giới thiệu được các giá trị, tinh hoa của nghệ thuật truyền thống Việt Nam, nghệ thuật truyền thống Huế.

 

     Các chương trình Đêm Hoàng cung với dạ tiệc cung đình và các chương trình nghệ thuật ẩm thực cũng như sinh hoạt cung đình gắn liền với không gian Đại nội huyền ảo; Lễ hội Nam Giao diễn ra với ba phần chính của lễ hội Nam Giao xưa; lễ hội Áo dài với không gian biểu diễn là dòng Hương giang về đêm lung linh hoa đăng, ngan ngát hương sen trên từng búp tay thiếu nữ; Lễ hội truyền lô gắn liền với lễ rước Vinh quy bái tổ một thời đề cao vai trò giáo dục văn hóa, ngợi ca vẻ đẹp tinh chất của tiền nhân trên lĩnh vực khoa bảng; Vũ khúc Cung đình và Nhã nhạc Huế (Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống cung đình Huế); Ca múa nhạc Truyền thống Huế (Nhà hát Ca kịch Huế); Âm sắc Việt (Nhóm Ca trù Thái Hà); nhóm Ca Huế Phú Xuân; nhóm nghệ sĩ Cải lương Thành phố Hồ Chí Minh); Nhà hát Ca Múa Nhạc Thăng Long; Nhà hát Ca Múa Nhạc Dân tộc Bông Sen; Đoàn Nghệ thuật Biển Xanh Bình Thuận; Ánh Tuyết và nhóm ATB; Nhóm Mặt Trời Đỏ; Chương trình Rock Alpha… được khán giả đánh giá cao và bày tỏ sự ái mộ trân trọng, nhất là đối với du khách quốc tế. Nhiều khán giả nước ngoài đã có cùng một nhận xét như Jim McGarrah, một du khách Mỹ là: "Văn hóa, nghệ thuật Việt Nam nói chung và của Huế nói riêng đã bộc lộ những bản chất, giá trị nhân văn tốt đẹp của đất nước, cuộc sống và con người Việt Nam. Đằng sau sự nhân hậu, hòa ái là niềm tự hào về đất đai, xứ sở, luôn ngợi ca điều thiện, không khoan nhượng với cái ác."

 

      Bên cạnh các chương trình nghệ thuật Việt Nam, Festival Huế 2006 đã quy tụ nhiều loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp, chất lượng cao của nhiều quốc gia trên thế giới góp phần làm sinh động, đa dạng chương trình OFF. Riêng trong chương trình IN, Festival Huế 2006 là nơi gặp gỡ giao lưu, phô diễn tài năng của các đoàn nghệ thuật tiêu biểu và chuyên nghiệp của Pháp, Nga, Trung Quốc, Anh, Áchentina, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia… Các chương trình trên được công chúng nồng nhiệt đón nhận từ các sân khấu được dàn dựng công phu tại Hoàng thành Huế và biệt cung An Định. Nhân dịp các đoàn nghệ thuật quốc tế về biểu diễn tại Festival Huế 2006, các tổ chức hữu nghị của tỉnh Thừa Thiên Huế như Hội hữu nghị Việt - Trung, Việt - Pháp, Việt - Nga, Việt - Nhật, Việt - Thái, Việt - Anh… đã tổ chức một số hoạt động hữu nghị, giao lưu với các đoàn nghệ thuật nước ngoài nói trên nhằm bày tỏ mối thiện cảm hữu nghị đặc biệt với các nghệ sĩ trên thế giới đã mang lại cho Festival Huế 2006 những giá trị nghệ thuật đặc sắc; góp phần làm bền vững, đẹp tươi thêm những nhịp cầu hữu nghị quốc tế.

 

      Mặc khác, theo dư luận công chúng và báo chí thì Festival Huế 2006  “đã có một sự đổi ngôi ngoạn mục giữa IN (các chương trình chất lượng cao có bán vé) và OFF (các chương trình lễ hội cộng đồng). Ngoài việc mở rộng không gian lễ hội ra các vùng phụ cận như Khu du lịch nước suối nóng Thanh Tân, xã Phong Sơn với chương trình Âm vang Trường Sơn, làng cổ Phước Tích (Phong Điền), làng hoa giấy Thanh Tiên, xã Phú Mậu (Phú Vang), lễ hội Biển Thuận An, Chợ Quê ngày hội ở cầu ngói Thanh Toàn, xã Thủy Thanh (Hương Thủy), Lăng Cô - Huyền thoại biển, Cồng Chiêng Tây Nguyên (đồi Thiên An)… Chương trình OFF năm nay dày đặc các trò chơi, triển lãm, nghệ thuật sắp đặt, biểu diễn nghệ thuật, thư pháp, thời trang, lễ hội, hội thảo khoa học, Festival Thơ lần thứ hai… Phải nói, chương trình nào trong phần OFF cũng phong phú, đa dạng, sôi động, đặc sắc. Đặc biệt, lần đầu tiên phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu ở bờ Nam sông Hương, một chương trình nghệ thuật đường phố do đoàn nghệ thuật đường phố Anh, cùng các nghệ sĩ ta biểu diễn liên tục ba suất từ chiều đến khuya với các tiết mục đặc sắc, mới lạ, vui nhộn như: múa đương đại ngoài trời, vẽ trên mặt đường, vẽ ký họa chân dung từng người…” (Báo Lao động, ngày 8-6-2006).

 

Từ một góc nhìn khác, Festival Huế 2006 còn là nơi tìm về chốn xưa của những người bao nhiêu năm lưu lạc, xa quê mẹ Việt Nam, của những người con xa Huế. Sự hình thành Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng, một họa sĩ Việt kiều tài danh ở hải ngoại, sự có mặt của các nhạc sĩ nổi tiếng như Giáo sư Nhạc sĩ Trần Văn Khê, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo, bác sĩ Bùi Minh Đức, tác giả cuốn Từ điển Tiếng Huế cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật của đông đảo giới văn nghệ sĩ, tu sĩ các tôn giáo gốc Huế đang sinh sống trên nhiều miền đất nước, ở nước ngoài về phô bày, trình diễn tại Festival Huế 2006 đã có một ý nghĩa lớn về sự tìm về cội nguồn dân tộc mà tình tự quê nhà luôn là những giai điệu lắng sâu hồn non nước, chan chứa tình người; vừa hoài niệm về quá khứ yêu thương đằm thắm vừa tha thiết khao khát, ước mơ về một ngày mai đất nước mình, trong đó có xứ Huế được phồn vinh nhưng vẫn luôn gìn giữ được nét thơ mộng, trữ tình mà đất trời thiên nhiên đã trang trọng ban tặng. Từ một góc nhìn khác, Festival Huế là địa chỉ văn hóa đẹp, thuần khiết mời gọi những tinh hoa văn học nghệ thuật thế giới về đơm hoa kết trái, về khoe sắc muôn hồng nghìn tía, giao lưu cùng văn hóa Việt. Và, du khách từ năm châu lục cùng với Huế hòa thanh khúc ca hòa bình hữu nghị. Cùng với Huế tiếp tục tổ chức thành công hơn những Festival Huế tương lai

 

Huế, 19-6-2006.

 

NGHỆ SĨ TAKAIWA SHIN: "VIỆT NAM – CON NGƯỜI VÀ ĐẤT NƯỚC TÔI YÊU"!

 

Những năm tháng hoạt động văn học nghệ thuật tại thành phố Huế, tôi đã có dịp quen biết thân tình với nhiều văn nghệ sĩ trong và ngoài nước. Một trong những nghệ sĩ lão thành mà tôi rất quý trọng, tin cậy là nghệ sĩ nhiếp ảnh người Nhật Bản, Takaiwa Shin. Ông đã có nhiều kỷ niệm đẹp về Việt Nam, với văn nghệ sĩ và nhân dân Thừa Thiên Huế.

 

 Nghệ sĩ Takaiwa Shin sinh năm 1928 tại thành phố Fukuoka, Nhật Bản. Năm 1953 đã tốt nghiệp trường Đại học Bách khoa Tokyo. Ông làm việc trong ngành điện ảnh tại Công ty Liên doanh Toei. Trong quá trình hoạt động, nghệ sĩ Takaiwa Shin đã thực hiện trên 100 bộ phim có giá trị nghệ thuật. Ông cũng đã xuất bản nhiều tuyển tập nghệ thuật nhiếp ảnh, tiêu biểu là các đầu sách: “Lúc bạn chưa ra đời”, 1952. “Công nhân làm phim”, 1990.

 

Qua những lần trò chuyện thân tình, nghệ sĩ Takaiwa cho biết qua báo chí, phim ảnh giới thiệu về đất nước Việt Nam anh hùng trong những năm chiến tranh và Việt Nam sau 1975 hòa bình, thống nhất mà ông đã tìm đến Việt Nam để tìm hiểu về đất nước cuộc sống, con người Việt Nam để sáng tác ảnh thời sự nghệ thuật. Bằng tấm lòng chân thành, ông đã dành nhiều tình cảm sâu sắc với đất nước Việt Nam. Với chiếc xe Honda, ông đã tự thân làm những chuyến viễn hành qua các làng quê Việt Nam, các thành phố Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Mỹ Tho… Các cuộc xuyên Việt ấy đã giúp cho ông hiểu cặn kẽ hơn về số phận người dân Việt Nam sau chiến tranh; về sự chuyển mình cùng nhịp điệu đổi mới của thành thị, nông thôn, miền núi Việt Nam trong quá trình phát triển, hội nhập. Những nơi chốn đi qua, Nghệ sĩ Takaiwa Shin luôn lưu tâm đến mảng ảnh sinh hoạt đời thường, chú ý đến công việc mưu sinh hàng ngày các thành phần trong xã hội Việt Nam. Bằng những góc nhìn sinh động, chân thật, ông đã kịp thời bấm máy ghi lại những khoảnh khắc đẹp, linh hoạt, trung thực về cuộc sống lao động cần cù, lạc quan hằng ngày của người dân Việt Nam.

 

Trẻ em Việt Nam cũng là mảng đề tài mà nghệ sĩ Takaiwa Shin rất chú ý quan tâm. Đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh như trẻ em bị chất độc màu da cam. Với trẻ em ông còn tìm đến các hoạt động cộng đồng của tuổi thơ, chuyện học tập, vui chơi giải trí ở gia đình, trong học đường của các em. Những tác phẩm ảnh nghệ thuật về đề tài trẻ em Việt Nam của ông đã tạo cho người xem những ấn tượng đẹp, nhân văn, giàu cảm xúc.

 

Trong lần về Việt Nam năm 2008, nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của ông trên thuyền sông Hương, ông đã rất vui khi tặng tôi tập sách ảnh “Và cuộc sống hôm nay” được xuất bản vào năm 2005 với lời giới thiệu đây là tập sách ảnh kỷ niệm 30 năm ngày đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Được biết, nghệ sĩ Takaiwa Shin còn  xuất bản hai tập sách ảnh về Việt Nam khác là “Mang giày xăng-đan ở thăm Việt Nam” , “Trẻ em ở làng bị rải chất độc da cam”.

 

Cùng với việc xuất bản các ấn phẩm nghệ thuật nhiếp ảnh, nghệ sĩ Takaiwa Shin còn thường xuyên tổ chức các cuộc triển lãm trên đất nước Nhật Bản nhằm giới thiệu các tác phẩm ảnh nghệ thuật của mình trước công chúng.  Trong đó, ông đã nhiều lần tổ chức triển lãm về quê hương, đất nước, con người Việt Nam ngay tại thành phố Fukuoka, quê hương ông.

 

Riêng với Thừa Thiên Huế, nghệ sĩ Takaiwa Shin đã thực hiện nhiều chuyến đi xa, đi sâu về những miền quê biển, quê cát Phú Vang, Phú Lộc hay lên tận những bản làng heo hút của A Lưới núi non. Sau những chuyến đi dài trở về thành phố Huế, nghệ sĩ Takaiwa Shin và nghệ sĩ Huế lại tìm đến nhau rượu Chuồn chén tạc chén thù mà mồi nhắm là đặc sản biển quê hương ông. Cũng xuất phát từ tình yêu quý Việt Nam, mến mộ Huế mà ông đã chính thức đề xuất việc tổ chức triển lãm tác phẩm về Việt Nam của ông tại Huế và tặng Huế toàn bộ tác phẩm này.

 

Đề xuất của nghệ sĩ Takaiwa Shin đã được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật - Hội Nhiếp ảnh tỉnh Thừa Thiên Huế và phòng Văn hóa Thông tin thành phố Huế tổ chức khai mạc Phòng ảnh "Việt Nam - Con người và đất nước tôi yêu" vào ngày 27-3-2009, tại số 4 Hoàng Hoa Thám, Huế đúng vào thời điểm tại Hà Nội diễn ra Lễ hội Hoa anh đào Nhật Bản do Hội Giao lưu văn hóa Việt - Nhật phối hợp với Hội Giao lưu văn hóa Nhật - Việt tổ chức, được sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội.

 

Xin cảm ơn Takaiwa Shin, người nghệ sĩ Nhật Bản lão thành đã khắc sâu vào tấm lòng mình dòng chữ thắm màu anh đào "Việt Nam - Con người và đất nước tôi yêu"!

 

Huế 29.5.2009.

 

HUẾ KHÔNG CHỈ MƯỜI NGÀY

 

Đến hẹn lại lên! Những ngày qua thành phố Huế tưng bừng rộn rã sắc màu âm thanh lễ hội. Festival Huế 2010 đến trong lung linh hoa phượng đỏ, giữa ngan ngát hương sen và những cơn mưa dông bất chợt. Cơn mưa diễn ra cùng lúc lễ khai mạc Festival Huế 2010 làm tôi và có lẽ không ít người cùng có chung ý nghĩ: Mưa đúng là đặc sản Huế! Cứ lựa đúng những thời điểm quan trọng mưa xuất hiện. Đối với ban tổ chức festival thì mưa là nỗi lo lắng, ái ngại vì sẽ gặp khó khăn, trở ngại trong việc thực hiện, điều phối các chương trình nghệ thuật tại các sân khấu lộ thiên. Nhưng từ góc nhìn khác, tôi lại viết cho người thân những dòng sau: “Có phải những hạt mưa cài trên mái tóc em trong đêm khai mạc Festival Huế 2010 đã cho em một hiện tại tuyệt vời để mai sau thành một quá khứ dễ thương, trữ tình về em và mưa Huế?”.

 

Vậy là đã mười năm từ Festival Huế 2000, Festival Huế 2010 trong chủ đề “Di sản văn hóa hội nhập và phát triển” gắn với “Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội”, “375 năm Chúa Nguyễn Phúc Lan chọn Huế để xây dựng thủ phủ xứ Đàng trong” và “50 năm mối tình kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn” đã tạo cho lễ hội lần này có thêm nhiều hoạt động mới lạ, hấp dẫn, cuốn hút sự chú ý của công chúng trong ngoài tỉnh và bạn bè quốc tế.

 

Việc tổ chức các chương trình tiền Festival từ những ngày đầu năm 2010 đã làm cho thành phố Huế trở nên sinh động hẳn lên trước khi vào lễ khai hội chính thức. Ngày 9-1-2010 Huế đã làm lễ khánh thành khu tưởng niệm anh hùng dân tộc hoàng đế Quang Trung và tái hiện lễ đăng quang. Công trình tượng đài hoàng đế Quang Trung cao 21 mét được phối trí trong một không gian hoành tráng, uy nghi gần 10 héc ta và được gắn biển công trình chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Nhân kỷ niệm ngày mất của người con gái đất Thăng Long, lễ hội đền Huyền Trân được diễn ra trong ngày 22-2-2010 (mùng 9 tháng Giêng âm lịch). Rồi chương trình tái hiện lễ tế đàn Xã Tắc của triều Nguyễn vào tối ngày 8-4-2010 (24 tháng hai âm lịch), lễ hội Sóng nước Tam Giang tại huyện Quảng Điền vào ngày 1-5-2010, giải Bóng đá bãi biển toàn quốc lần thứ hai tại bãi biển Thuận An, huyện Phú Vang từ 1- 6 đến 7-6...

 

Bên cạnh chương trình chính, chương trình nghệ thuật đường phố phong phú, đa dạng hơn các Festival trước với sự hưởng ứng tham gia tích cực của các đoàn nghệ thuật quốc tế và một số tỉnh thành trong cả nước được gọi là những hoạt động văn hóa nghệ thuật cộng đồng (off) rất sôi nổi, hào hứng mà đông đảo nhất là nghệ sĩ ba thành phố kết nghĩa Huế - Hà Nội - Sài Gòn. Loại hình được nở rộ nhất trong Festival Huế 2010 là trên ba mươi cuộc giới thiệu nghệ thuật sắp đặt, trưng bày triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh của các tác giả trong và ngoài nước. Phải nói đây là một “đại yến” của ngành nghệ thuật tạo hình, và có lẽ cũng vì quá nhiều cuộc như thế lại bị trùng thời gian nên trong một số buổi khai mạc phòng trưng bày khách tham dự không đông như tác giả mong đợi.

 

Đang là mùa Hạ, cùng với sen Huế đang khoe sắc, trao hương và bảy đài sen hồng trên sông Hương, trước Phu Văn Lâu được thiết kế từ lễ Phật Đản 2554, Festival lần này sen cũng được mùa trong nghệ thuật. Cùng với chủ đề sen là cuộc triển lãm tranh 64 tự thức Bông sen của Quỳnh Bích Châu và ba cuộc triển lãm trên cùng một con đường Lê Lợi: Sen của nữ nghệ sĩ nhiếp ảnh Đào Hoa Nữ, Duyên sen của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Bích, tranh thêu tay Đóa sen 1.000 năm của Thêu XQ. Qua sự kiện này cho thấy sen đáng yêu biết mấy trên kinh thành Huế!

 

Festival thơ Huế lần thứ tư (2010) không tổ chức trước Festival Huế mấy ngày như mọi lần mà được lồng ghép trong thời gian Festival được tiến hành. Đây là cuộc gặp gỡ đông vui, thân tình đậm đà hương thơ của các nhà thơ từ nhiều tỉnh thành phố trong cả nước. Người dân Huế có thêm cơ hội để thưởng thức các giọng điệu thơ từ nhiều miền, nhiều xứ của các nhà thơ đương đại. Hai tập thơ Thơ tình xứ Huế, 1.000 nhà thơ xứ Huế đương thời (tập 3) được giới thiệu đúng trong dịp này đã góp thêm phần trữ tình, sâu lắng để cộng hưởng với không khí đa sắc, đa thanh trong mùa lễ hội.

 

Khác với các lễ hội trước, Festival Huế 2010 không chỉ được diễn ra trên địa bàn thành phố Huế mà ban tổ chức đã quan tâm phân bố chương trình biểu diễn của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài nước về thị xã Hương Thủy, làng Phước Tích (Phong Điền), thị trấn Hương Trà, thị trấn Sịa (Quảng Điền), thị trấn Thuận An, thị trấn Phú Đa (Phú Vang), xã Thủy Thanh (Hương Thủy), thị trấn Lăng Cô (Phú Lộc), thị trấn Nam Đông, thị trấn A Lưới. Với chủ trương mở rộng vùng miền ở các huyện lỵ, nông thôn cho các hoạt động nghệ thuật trong khuôn khổ Festival Huế 2010 đã được người dân Thừa Thiên Huế đồng tình, phấn khích, hoan nghênh. Việc Sébastien Laval nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp từ năm 1993, hiện đang sống tại thành phố Poitiers, Pháp mở cuộc triển lãm ảnh người dân tộc Kơ Tu ở nhà văn hóa thôn Dỗi, xã Thượng Lộ, huyện Nam Đông đã gây một ấn tượng tốt đẹp với bà con tại đây vốn là những “người mẫu” của các tác phẩm nhiếp ảnh được trưng bày.

 

Festival Khoa học Y học với sức khỏe cộng đồng của trường Đại học Y khoa Huế cũng là một điểm nhấn mới trong mùa lễ hội. Sự tích cực hưởng ứng này rất đáng trân trọng, phát huy nhằm tăng cường thêm các nội dung khoa học có liên quan mật thiết đến đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất của nhân dân trước những vấn đề bức thiết của xã hội. Các hội thảo khoa học, tọa đàm như: Hội thảo Kinh đô xưa và nay của năm Hội Văn học Nghệ thuật ở năm nơi, cố đô Huế, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Nội, Phú Thọ; tọa đàm Thơ đến từ đâu thuộc khuôn khổ Festival Thơ Huế lần thứ tư (2010), Giao lưu giới thiệu Nhà xuất bản Tinh hoa; tọa đàm, giới thiệu về nghề truyền thống Huế… được thực hiện trong Festival Huế 2010 là những sự đồng cảm, đồng tình cao, góp phần tăng thêm chất lượng nội dung cũng như chiều sâu văn hóa lễ hội.

          Ngoài những chương trình hoạt động cộng đồng hưởng ứng Festival Huế 2010 được ban tổ chức chính thức thông tin đến công chúng, trong mạch ngầm của Huế vẫn còn một số chương trình hưởng ứng lặng lẽ đáng trân trọng như chương trình biểu diễn ca Huế tại trung tâm Liễu Quán vào tối 7-6-2010 của các trẻ em khiếm thị của Trung tâm hướng nghiệp trẻ em mù Thừa Thiên Huế hay một số chương trình thơ, ca Huế diễn ra tại các thính phòng của những ngôi nhà Huế đón bạn bè, thân hữu muôn phương hay những người con xứ Huế xa quê lâu ngày về hòa âm, hòa điệu cùng Huế trong mùa lễ hội.

 

Huế cố đô với tôi trong những ngày này đang trẻ hơn, năng động hơn với nhiều nụ cười thân thiện, hiếu khách. Hy vọng các mùa sau, không khí lễ hội càng khởi sắc hơn với các chương trình hoạt động văn hóa nghệ thuật cộng đồng và chính mỗi người dân Huế sẽ vừa là diễn viên, vừa là khán giả, không ngừng khát vọng sống, cống hiến, sáng tạo và xứng đáng được hưởng thụ các giá trị tinh thần và vật chất từ cuộc sống, từ lễ hội.

 

Huế,  8-6-2010.

 

  CỔNG TRƯỜNG CHẢI MÁI TÓC XƯA 

 

        Ba mươi lăm năm, kể từ ngày tên trường Nguyễn Hoàng không còn nữa (1972), ngày 4 tháng 8 năm 2007, trên mảnh đất trường Nguyễn Hoàng xưa, (nay là trường Trung học phổ thông Thị xã Quảng Trị) đã có một cuộc hội ngộ, trùng phùng kỳ thú, đầy ấn tượng, đầy xúc cảm với nụ cười, với rưng rưng nước mắt. Thầy giáo, cô giáo, học trò các thế hệ thuở nào xưa chừ mừng mừng tủi tủi, ngỡ ngàng gọi tên nhau trong trạng thái nghẹn ngào hay òa vỡ, buồn, vui, mơ, thực...

 

         Ban vận động tổ chức cuộc họp mặt cựu thầy cô giáo, học sinh Nguyễn Hoàng chỉ mới dám mời chừng ba trăm  người về dự, nào ngờ số người về lên gần bảy trăm. Thầy trò trong tỉnh Quảng Tri, trong nước: Sài Gòn, miền Tây, Tây Nguyên, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế... Nước ngoài... Bốn phương trời biển lại tìm đến tìm nhau bằng nghĩa khí Nguyễn Hoàng. Hôm ấy trời không mưa, không nắng. Trời còn thiếu gió Lào.  Ngọn gió từng xạc xào trên những rặng liễu trường tôi.

 

         Chuyện cũ bao giờ cũng mới. Những hồi ức. Những kỷ niệm về thầy, về cô. Về học trò một thời áo trắng, quần xanh lại hiện nguyên mẫu, nguyên hình trong từng câu chuyện kể. Trên ánh mắt. Trên nụ cười. Trong cái siết tay, trong vòng ôm trìu ái, ấm nồng. Thế ai còn? Ai mất? Ai đi đâu? Ai về đâu? Ai làm chi? Những câu hỏi dồn dập. Những câu hỏi ái ngại với thầm mong thầy cô, bằng hữu vẫn bình yên cho dù đang nơi chốn nào xa xôi, giờ đây không có mặt. Mấy chục năm rồi biền biệt. Cách ngăn. Mấy chục năm rồi tưởng không một lần nào gặp gỡ. Nhìn lên mái đầu nhau. Những mái tóc không còn tuyền một màu đen nữa. Sương năm tháng. Muối thời gian đã nhuộm trắng tuổi xuân thì. Rồi lại mi tau. Rồi lại tau mi vô cùng thân ái. Đã có dâu rể, con cháu nội ngoại đầy đàn rồi mà chừ vẫn mi tau. Tình cảm trong ngần thuở học trò đã bắt thời gian lùi lại, lùi lại trong khoảnh khắc thiêng liêng này. Có ai ngờ rằng những cô bé học trò ngây thơ ấy mấy chục năm sau là những bà mẹ, là những mụ gia (bà nhạc), là những bà nội, bà ngoại lại có một ngày như ngày hôm nay, hồn nhiên đứng chải mái tóc xưa trước cổng trường yêu dấu rồi ngẩn ngơ hỏi nhau khi mô mới có cái tên trường Nguyễn Hoàng lại mi hè? Câu hỏi vu vơ ấy với tôi nghe như tiếng thở dài. Biết khi mô cái tên Nguyễn Hoàng quen thuộc, dấu yêu kia mới được tái hiên trên cổng trường. Trước "ba quân thiên hạ". Không gian xưa còn đó. Người người năm trước về đây mà tên trường lẩn khuất nơi mô? Ngẩn ngơ là phải lắm. Nguyễn Hoàng ơi! Tại thời điểm này, khi nhìn hình ảnh những mái tóc dài, mượt với những cánh tay cầm lược chải của các cựu nữ sinh dưới tàng cây trước cổng trường tôi đã cầm lòng không đậu buột miệng kêu lên trời ơi đẹp quá và chạy tới gần, nhìn ngắm cho bằng được. Tôi lại còn kèo nài xin mấy o cho tui chụp ảnh mấy người chải tóc bằng thơ: Cổng trường chải mái tóc xưa. Mi tau cùng ngẩn cùng ngơ... Nguyễn Hoàng...

 

       Tôi hòa tôi trong dòng người đông tứ xứ, trong mạch nguồn thầy cô và hình dung những gương mặt, giọng nói của các thầy, cô đã từng dạy dỗ tôi là các cô Mai Thị Hảo, cô Bùi Ngọc Lan, cô  Phan Ngọc Lan, cô  Tường Vy, cô Táo, cô Toàn, cô Nhã, cô Nhũ Hương, cô Nhạn, cô Lê Thị Tránh, thầy Nguyễn Đăng Ngọc, thầy Nguyễn Diên... Tôi  hòa tôi trong láng lai tình học trò nhiều thế hệ. Từ đây, trong bối cảnh hội trường đông vui, hòa ái này, tôi cố lắng nghe. Lắng nghe hồn trường. Và hồn trường dường như lung linh, kỳ ảo trong nhịp thở mỗi người. Trong hoài niệm thầy trò. Nhớ lại, thời tôi học. Tiếng máy bay trực thăng lên xuống ầm ào sau sân vận động cách trường bằng một bức tường dài. Âm thanh của chiến tranh. Những giờ học bị ngắt quãng bởi âm thanh ấy. Từ bên trong lớp học, chỉ cần nhướng người lên là có thể chứng kiến những cuộc hành quân xuất phát hay trở về ở sân vận động này. Lớp học tôi thỉnh thoảng vắng một người và có lẽ những lớp học khác nữa trong trường cũng vậy. Lớp học tôi thường thì thầm với nhau khi có người bỏ học lên xanh. Những khoảng  trống thiếu trên bàn học thành những dấu hỏi lớn buồn. Nhức nhối. Những bài thơ của thầy Phan Phụng Thạch viết cho học trò thời chiến xoáy vào tâm thức tôi những dòng xốn xang:

 

Rồi một mai nhìn mùa thu trở lại
Các em về với tuổi thơ hồng?
Hay cuộc chiến đưa các em đi mãi
Và trường đời sẽ lắm núi nhiều sông.

 

(Lưu bút mùa hạ - Phan Phụng Thạch)

 

       Hết hồi tưởng, tôi trở về thực tại. Từ một nhóm khác trong đám đông tú xứ ấy, bạn bè đang kháo nhau kể chuyện về những mối tình học trò thơ dại dưới mái ấm Nguyễn Hoàng ngày ấy... Những trường đoạn phim hồi ức được trình chiếu một cách dễ thương, chơn chất mà sinh động. Có mối tình lặng thầm của tay nớ tay kia. Có mối tình nổi tiếng trong thành phố nhỏ. Có mối tình thành trăm năm hạnh phúc chừ đang dắt tay nhau cùng về dự hội trường. Có mối tình dở dang như ả nọ, anh này... Hai ta thương chắc mần ri, mạ cha mần rứa anh thì mần răng? "Mạ cha mần rứa..." chỉ là một trong những lý do thôi. Tuổi học trò chúng mình có biết bao nhiêu điều, biết bao nhiêu chuyện làm cho đôi lứa cách ngăn, không được đến cùng nhau trong cuộc tình dài, đằm thắm. Hồi nớ đến với tình nhau, nhiều lá thư viết vội, vụng về trên trang vở học trò. Lúc giận nhau, lại tìm trả lại thư cho người tình đáng ghét, đáng hờn làm những lá thư tình tung tóe bay trên sân trường đang gió Lào mù bụi. Giờ đây những cuộc tình dang dở ấy lại gặp nhau bồi hồi, xuyến xao, thương cảm. Ôi chao! Những mối tình học trò thơ dại ban đầu thế mà cũng sâu lắng, vương mang. Họ ngại ngần một thoáng khi bạn bè kéo hai người vào chụp chung một khuôn hình. Liệu anh ở nhà có nói chi không? Rồi bà xã ông có ghen không? Ối dào! Chừ thì ai cũng đã có rể có dâu, có cháu, có chắt rồi. Nói chi mà nói. Ghen chi mà ghen. Tìm lại một vầng trăng nhớ. Một áng sao xưa. Một làn hương cũ. Một sắc phượng hồng ngày ấy. Có hề chi. Có can chi cái chuyện tình cảm học trò trong veo giọt nước. Đứng gần bên nhau. Thật gần. Thật gần. Và hãy cười tươi lên nhé. Ta ghi lại khoảnh khắc trang trọng này đi! Vì em ơi! Vì anh ơi! Vì bạn thân yêu ơi! Sau giây phút tái hiệp đoàn viên kỳ diệu này biết chúng mình có còn gặp lại nhau? Tình thơ dại ai ngờ sâu nặng thế. Mai cho dù tóc trắng với ngàn lau...

 

Trong một góc khuất. Có giọng nói sôi nổi nhắc tên vài người học trò cá biệt nổi tiếng của Nguyễn Hoàng dạo trước. Những người ấy hôm nay không có mặt nơi đây. Họ còn hay mất? Hay đang lang bạt mưu sinh chốn nào xa trên trái đất nầy? Với tôi,  hôm nay,  những người đó vẫn đang về đây trong các mẩu chuyện vui đang được kể về sự phá phách ngang tàng, rất anh chị nhưng trọng tình bằng hữu; ngỗ nghịch, hung hãn nhưng lại vô cùng nghĩa khí. Biết buồn. Biết thương. Biết giận để khi cần họ cũng thành người nghĩa hiệp diệt chằn tinh, bắn đại bàng cứu công chúa như ai.

 

Một đêm trước ngày họp mặt, sau bữa cơm tối thân mật tình cờ với thầy Nguyễn Viết Trác, thầy Đỗ Tư Nhơn, thầy Lý Văn Nghiên, thầy Lê Hữu Thăng (từ Mỹ về), thầy Phan Khắc Đồ  (Đà Nẵng) và các thầy cô từ Sài Gòn ra, với Tâm, Bích, Hậu, Bằng, Ngữ, Phương... tôi một mình lang thang qua những con đường trong thành phố Quảng Trị. Thành phố một thời nhỏ nhắn, bình yên như tranh lụa đã đùm bọc tôi, nuôi nấng tôi những năm tháng thiếu niên cùng khổ, bần hàn. Tại đây, tiếng rao mì, cà-rem tôi đã từng hòa thanh với tiếng rao của các bạn nghèo cùng trang lứa. Thuở thương nhau áo rách nên lành. Rạp xi-nê Đại Chúng, chùa Sắc Tứ, chùa Tỉnh Hội, nhà thờ La Vang... là những tên gọi thân quen, thùng cà-rem của tôi thường được hết nhanh từ đây. Phòng Đọc sách Công giáo tiến hành cũng là nơi tôi hay tới vùi đầu vào những trang truyện Tàu hấp dẫn, lôi cuốn để cố quên mình đã có năm năm dài thất học. Đêm ấy, tôi còn thơ thẩn trên con đường Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu... cũ, độc hành dọc dòng sông Thạch Hãn - con đường Gia Long ngày trước với áo dài trắng Nguyễn Hoàng về chợ Sãi trong mỗi trưa, chiều tan học, với sắc phượng đỏ thắm gợi tứ cho tôi viết bài thơ Nơi con sông khi trở lại thành phố có chiều sâu kỷ niệm đã bị bom đạn chiến tranh tàn phá. Thành  phố - mối tình đầu hóa thân làm một. Mối tình đầu - thành phố đan quyện, nhức nhối, dằn xé tâm thức tôi trong mỗi đêm mơ. Đổ nát rồi thành phố thuở chiến tranh. Anh tiếc nuối thương từng con đường nhỏ. Như có máu trong màu hoa phượng đỏ rơi xuống đời từng mảnh đau thương.  

 

   Lại nhớ. Quảng Trị những mùa tranh đấu. Như mới hôm qua đây thôi. Quảng Trị bừng lên giữa mùa pháp nạn 63 rồi các mùa đấu tranh 64, 65, 66... Đấu tranh chống bạo quyền, đấu tranh chống bất công áp bức. Đấu tranh vì một ngày mai hòa bình, thống nhất. Và hôm nay đất nước mình đã thống nhất, hòa bình. Thầy và trò Nguyễn Hoàng chắc chắn đã có một quá khứ hào hùng, góp phần chung tay trong việc làm đổi thay vận nước. Thuở bằng hữu lên xanh thương người ở lại. Xuống đường. Hào khí tiếng loa vang. Quảng Trị rung lên mấy mùa tranh đấu.  Em bên anh. Sát cánh Nguyễn Hoàng.

 

       Những câu chuyện tâm tình. Những hồi ức,  những màn chụp ảnh quay phim cứ kéo dài không chịu dứt dưới khung trời râm mát trước hội trường. Ban tổ chức phải mời gọi nhiều lần đến khan giọng trên loa phóng thanh, gần bảy trăm con người ta mới chịu vào để tiến hành lễ gặp mặt chính thức. Trước phần đọc diễn văn, phát biểu của các thầy, cô, của các đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Huế,  Đà Nẵng... ban tổ chức đã bố trí một chương trình văn nghệ chào mừng phong phú để tạo không khí gồm các tiết mục cây nhà lá vườn thật dạt dào tình. Hay quá! Vui quá! Tiếng hát lời ca, giọng ngâm thơ của thầy, cô và trò đã ngân lên những hợp âm đồng điệu và từng độ rung truyền cảm, tâm huyết. Tất  cả được phát đi từ tiếng lòng rất mộc. Rất thật. Rất trẻ. Đã già rồi mà tiếng-hát-học-trò-một-thuở có già đâu!

 

       Điều làm tôi xúc động nhất là khi toàn thể mọi người có mặt trong hội trường chợt trầm, chợt trang nghiêm hẳn đi khi có một phút tĩnh mặc dành tưởng niệm về các thầy cô và học trò đã vĩnh viễn ra đi, hôm nay không hiện diện nơi đây. Lắng lòng lại thật sâu. Định tâm. Định huệ thật vi tế để vầng sáng đồng môn, sư đệ hồi quang giữa đất trời xứ Quảng thương yêu xua tan mọi dị biệt, mọi rào cản, mọi hoàn cảnh sống mà thầy, mà cô, mà học trò Nguyễn Hoàng đã sống, đã trải nghiệm; để chừ đây, trong không khí thuần khiết, vô ngại này thầy và trò chúng ta cùng thầm gọi lên hai tiếng thiêng liêng:  Nguyễn Hoàng!

 

Quá khứ đẹp câu hò Ái Tử
Nơi tiền nhân khai mở nước non nhà
Tên Nguyễn Hoàng đã hồng trang sử
Lại nhân từ trong tâm khảm học trò quê.

 

 

 

            Niềm vui của người về dự hội trường được trọn vẹn hơn khi có chương trình thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tôn vinh ơn nghĩa các thầy cô đã một đời hy sinh, tận tụy dạy dỗ các thế hệ trẻ "ngày nay học tập, ngày mai giúp đời". Những ánh mắt học trò ngời lên niềm ngưỡng mộ kính yêu cùng hướng lên thầy cô đang nhân hậu môi cười. Những đài hoa thắm sắc, tỏa hương dâng tặng thấy cô trong xanh nguồn ân đạo. Phần tặng quà lưu niệm đến một số cựu học sinh Nguyễn Hoàng có hoàn cảnh khó khăn hiện nay trong cuộc sống cũng là một điểm nhấn quan trọng làm xúc động mọi người. Nguyên ơi! Tôi đã không giấu được khoảnh khắc mềm lòng của mình khi ướt mắt nhìn em với tà áo dài trắng trinh thơ đang nghẹn ngào, thổn thức trên chiếc xe lăn trong vòng tay bè bạn, anh em... Khi ấy tôi rất muốn em, Băng Tâm, em Tiên, chị Thúy, anh Ngân, anh Châu... trở lại một thời áo lam trên đồi La Vang lộng gió chiều chơi trò chơi lớn. Cỏ may chạm vào áo, chích vào tuổi thơ những cọng hồn nhiên. Nhưng không thể được rồi. Thương dĩ vãng qua rồi không trở lại. Từ một chéo sân trường, tôi chỉ biết thầm cầu nguyện cho em Nguyên và tất cả chúng ta thân tâm thường an lạc! Cầu nguyện tên trường Nguyễn Hoàng luôn là sợi chỉ điều bền bỉ và bao dung xâu kết chúng ta thành một chuỗi ngọc lành. Và chúng ta cũng phải ra sức trân trọng, bảo bọc, giữ gìn sợi-chỉ-điều-bảo-bối kia em nhỉ?

 

      Trong không khí trang trọng của buổi gặp gỡ, điều quý báu nữa đáng lưu tâm là nội dung các phát biểu trình bày trước hội trường. Hầu hết các bài viết đã phản ánh, thông tin tương đối đầy đủ, trung thực về sự nỗ lực không ngừng trên nhiều lĩnh vực của các thế hệ cựu giáo chức, học sinh Nguyễn Hoàng đang ở bên trong và ngoài tổ quốc. Các ban liên lạc, các hội ái hữu Nguyễn Hoàng được thành lập ở nhiều nơi, các ấn phẩm văn học nghệ thuật, các đặc san về trường Nguyễn Hoàng trong nước và hải ngoại được phát hành tạo nên những mối dây thân ái, nghĩa tình bền chặt, phần nào thỏa mãn nhu cầu nhớ, thương, hoài niệm của nhiều người dành cho ngôi trường Nguyễn Hoàng có quá nhiều chiều sâu, độ dày kỷ niệm. Bên cạnh những thành đạt sự nghiệp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật... nhiều người thầy, cô, cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã đào tạo, nuôi dưỡng con cháu noi gương cha ông trên các mặt: học hành xuất sắc, đời sống mẫu mực, đạo đức, làm ăn giỏi, có hiệu quả cao trên các ngành kinh doanh, thương trường, khoa học kỹ thuật, xã hội nhân văn, công nghệ thông tin... đóng góp nhiều công sức cho cộng đồng, nơi mình đang học tập, làm việc, sinh sống... Một mặt tích cực khác, tinh thần, tình cảm hướng về Quảng Trị quê nhà yêu dấu của thầy và trò Nguyễn Hoàng đang ngày càng tỏa sáng. Một số công trình văn hóa giáo dục, các dự án kinh tế đang được triển khai thực hiện trên quê nhà với ước muốn làm một chút gì đó, dù bé nhỏ cho mảnh đất mà mình đã từng học tâp, từng gắn bó. Việc huy động các nguồn quỹ học bổng dành cho học sinh xuất sắc của tỉnh Quảng Trị cũng đã và đang được thầy trò Nguyễn Hoàng quan tâm thực hiện từ nhiều năm nay. Của ít tình đầy. Tuy chưa là bao trong cái khó khăn chung của xứ sở, nhưng bạn ơi đó là cả trời thương, biển nhớ! Thời gian tới, sau cuộc hội ngộ lịch sử này chúng ta hy vọng, tin tưởng các thầy cô giáo, cựu  học sinh Nguyễn Hoàng bằng tâm huyết của mình sẽ có nhiều hoạt động ái hữu thiết thực hơn nhằm huy động có hiệu quả các nguồn tài lực, xây dựng thêm nhiều quỹ học bổng hiếu học cho tuổi  trẻ học đường của quê nhà. Riêng trong sáng hôm nay, hình ảnh các thầy cô, học trò Nguyễn Hoàng tươi cười, chen chúc nhau thả phong thư vào thùng gây quỹ học bổng từ năm 2007 về sau đã tạo thêm cho toàn cảnh một nét sinh động, đầy hứa hẹn.

 

      Trong buổi lễ hội trường trang trọng, ấm áp tình đồng môn, khi nhìn các em nữ sinh xuất sắc của trường Trung học phổ thông Thị xã Quảng Trị lên nhận phần thưởng trong tà áo dài trắng tinh khôi, không dưng lòng tôi bồi hồi, xuyến xao một tí. Tôi thoang thoáng có cảm giác mình trẻ lại thời đi học. Dễ thương, hiền thục và học giỏi quá các thế hệ học trò con gái xứ Quảng của tôi ơi! Cơ chi trên những tà áo dài trắng nguyên sơ kia của các em gái quê nhà chừ mang cái bảng tên trường Nguyễn Hoàng thì tôi và các thầy cô, học trò Nguyễn Hoàng cũ bốn phương tám hướng hạnh phúc biết bao! (Thật ra, tôi thầm biết tại không gian, thời điểm gặp gỡ đáng giá nầy, từ trong sâu thẳm thâm tâm thầy và trò Nguyễn Hoàng cũ ai cũng muốn trên cho khôi phục lại tên trường Nguyễn Hoàng nhưng còn e ngại, chưa chính thức kiến nghị, đề xuất. Và tôi cũng thầm trực nhận rằng lãnh đạo tỉnh Quảng Trị cũng đã hiểu, cảm thông trước nguyện vọng rất chính đáng, chí cốt, thiết tha ấy bấy lâu nay của chúng ta. Chúng ta cứ hy vọng và chờ đợi!). Chạnh lòng, bâng khuâng tôi nhớ câu chuyện kể của thầy Hiệu trưởng Thái Mộng Hùng mà tôi được đọc trên trang web http://www.nguyenhoang.org của Hội Ái hữu Nguyễn Hoàng Bắc California (Mỹ): Sau năm 1975, ông Nguyễn Hữu Kiểm, người Quảng Trị vào định cư tại Bà Rịa - Vũng Tàu khi đi mua nông sản ở một vùng quê Bà Rịa, tình cờ thấy trên dây phơi nhà một thiếu phụ nghèo có tà áo trắng còn mang nguyên cái bảng tên trường Nguyễn Hoàng.  Ông Kiểm vô cùng xúc động trước việc người thiếu phụ đồng hương nghèo lưu lạc kia đã trân trọng nâng niu tà áo dài còn nguyên bảng tên trường của mình học thời con gái ở quê nhà. Chuyện xảy ra đã lâu, đến năm 1999, ông Kiểm đã viết thư kể chuyện với thầy Thái Mộng Hùng và kèm một bài thơ về tà áo dài trắng Nguyễn Hoàng mời thầy cảm tác:

 

ÁO TRẮNG NGUYỄN HOÀNG

 

Bài xướng:

 

Tuổi dại thuở nào áo trắng bay
Ai về lướt thướt dưới heo may
Phố xưa Quảng Trị đâu rồi nhỉ?
Bạn cũ Nguyễn Hoàng hỡi có hay!
Sách vở đã xa từ dạo ấy
Ruộng vườn theo mãi đến hôm nay
Mái đầu điểm trắng bàn tay trắng
Áo trắng xưa còn cất mãi đây.
       LINH ĐÀM  NGUYỄN HỮU KIỂM

 

Bài cảm tác:

 

Rong ruổi miền quê một sớm mai
Phất phơ áo trắng giữa vườn ai
Đôi tà trinh bạch màu như mới
Hai chữ Nguyễn Hoàng nét chửa phai
Trường cũ đã xa từ dạo ấy
Áo dài còn giữ đến hôm nay
Xốn xang hồi ức thời thơ mộng
Thơ thẩn đường về mắt thoáng cay.

 

   THÁI MỘNG HÙNG

 

            Kết thúc buổi hội trường là bữa cơm thân mật. Chắc chắn không có ai trong chúng ta ngờ được rằng mình sẽ có được một lần ngồi bên nhau ăn cơm uống nước ngay trên mảnh đất trường Nguyễn Hoàng tọa lạc ngày xưa. Hôm nay đây, đúng là bữa cơm hy hữu, độc đáo. Mà chỉ thầy, cô, học trò Nguyễn Hoàng mình mới có chuyện hy hữu ni thôi. Đúng là ba mươi lăm năm mới có cuộc vui này. Xin kính mời thầy cô! Nào! Xin mời các bạn! Nâng ly! Nâng ly! Nâng ly mừng hội ngộ. Nâng ly thương tưởng các thầy cô, anh chị em bạn bè ta hôm nay không có mặt. Nâng ly trân trọng đón mời dĩ vãng quý yêu từ mái trường xưa về thắp lửa trên lòng ta từng kỷ niệm buồn vui, sướng khổ học trò. Nâng ly! Nâng ly với nguồn hy vọng tràn trề cùng niềm tin yêu dành cho các thế hệ học trò đàn em thân yêu từ hiện tại này đến tương lai luôn học hành xuất sắc, tài năng, thành đạt và đức hạnh, mai lớn khôn chung tay xây dựng Quảng Trị quê nhà phồn vinh, giàu đẹp. Nâng ly! Nâng ly! Và đừng nói lời tạm biệt. Đừng nói lời tạm biệt. Nguyễn Hoàng ơi! Nguyễn Hoàng ơi! Hẹn nhé một ngày về!

 

Bạn đi rồi đâu phải đã chia tay!                                             

 

                                               Huế, 1-8-2007.

 

                           NGÔI NHÀ MỚI CỦA EM  

 

Những năm tháng qua em và tôi mặn nồng một tình yêu da diết. Tình không bỏng cháy nhưng lắng sâu trong từng đường chỉ thời gian trên đôi bàn tay em, trên đỉnh trán tôi. Tình không nhiệt cuồng dữ dội nhưng vô cùng đằm đẹ êm đềm cùng cỏ hoa xứ Huế. Lắng đọng và chan chứa. Tôi và em đã đi qua biết bao nhiêu cung đường quê nhà yêu dấu. Em và tôi đã nhiều lần cùng dìu nhau vượt lên vô vàn khó khăn sinh lão bệnh tử của kiếp người nơi trần thế.

 

Và rồi… Ban khuya em và tôi…

 

Thoát khỏi vòng hệ lụy dương gian, ban khuya ấy, em làm nên một cuộc chia ly tức tưởi. Nước mắt tôi khô trong từng khúc đoạn trường. Nỗi bất hạnh thành sóng lòng cuồng dâng cuốn tan mất trong tôi nguồn bình an hằng có. Em không ở lại. Em muốn tôi tìm cho em một ngôi nhà mới. Ngôi nhà vĩnh cửu hơn, kỳ diệu hơn trên trái đất này. Tôi nén đau thương lại. Tôi nhốt kín ưu tư, dằn vặt lại để tôi mở lòng thanh thản chìu em sắm tặng em ngôi nhà mới. Tôi trang trọng mời em bước vào một không gian lạ. Không gian này hoàn toàn thuộc về em. Chỉ của riêng em.

 

Muốn tìm thăm ngôi nhà mới của em, người ta được đi qua những con đường xanh điệp trùng tươi mát. Bạch đàn rợp bóng dịu êm. Thông ngàn reo trong từng khoảnh khắc với những hòa âm thiên nhiên phóng khoáng, an lạc, nhẹ nhàng.

 

Bất ngờ hơn, ngôi nhà mới của em nằm trên đồi cao với nhiều sim núi. Chưa tới mùa hoa sim nở nhưng sao tôi đã hình dung một bạt ngàn tím đan quanh nhà em. Em vốn yêu màu tím. Hoa sim tím thành tấm voan sang trọng nâng em bay lên thanh thoát, kỳ ảo. Từ nhà em nhìn xa hơn là trập trùng núi biếc non ngàn. Núi biếc non ngàn đang soi bóng cùng mặt hồ trong xanh lung linh nắng ấm. Ngôi nhà em nơi đây đúng là sơn thủy hữu tình phù hợp với em là người luôn tinh anh, dịu dàng, ưa chuộng những vẻ đẹp đan thanh.

 

Mỗi lần tôi về nơi em đang trú ngụ thăm em, em thường không hiện hữu trước mắt tôi. Nhưng tôi biết em đang lặng lẽ mở to đôi mắt nhìn tôi từ một góc nào đó trong nhà hay ở bên ngoài đồi sim lộng gió. Không chào hỏi, không nói năng chi, em luôn ái ngại thương yêu thầm nhìn tôi như thế. Tôn trọng những giây phút tĩnh tại, an nhiên mà tràn đầy tình yêu của em dành cho riêng tôi, tôi chỉ biết thì thầm: “Anh đang về cùng em và đang nhớ thương em đây!”.

 

Làn hương từ ngôi nhà em vương vương thơm và tôi hiểu làn hương thơm ấy đang chuyển tải tiếng lòng em quyện vào tiếng lòng tôi. Thiêng liêng. Hạnh phúc. Từng sợi khói lam huyền diệu đang thành từng sợi dây vô hình se kết tâm linh cho tôi được gần em, được quyến luyến em và em cũng đang truyền cho tôi một mạch sống ngầm tươi mươi, sinh động. Em không muốn tôi triền miên chìm trong sầu khổ. Em chỉ mong tôi tan bay muộn phiền vì phải một mình, thiếu vắng em trong những ngày qua và đang tới.

 

Nhà em ban mai bình minh lên tuyệt vời với muôn ngàn tia nắng ấm. Tiếng chim hót đồng điệu ngợi ca ngày mới bắt đầu bình yên, thánh thiện. Nhà em hoàng hôn xuống trong bàng bạc tím mây chiều. Nhà em long lanh bảy sắc cầu vồng sau cơn mưa bất chợt. Nhà em bàng bạc xanh trong ngàn sao mỗi đêm về. Nhà em mùa trăng nào cũng có những ngọn gió lành ánh lên sắc vàng trăng mát rượi…

 

Ngôi nhà mới của em. Em đã hóa thân vào thiên nhiên xanh!

 

Huế 13-1-2011.

 

NHÀ THƠ FRED MARCHANT ĐÒNG ĐIỆU, THÂM TÌNH

 

            Những năm tháng hoạt động văn học nghệ thuật tại thành phố Huế, tôi đã có dịp tiếp xúc, quen biết thân tình với nhiều văn nghệ sĩ, các tổ chức, hội đoàn văn học nghệ thuật trong và ngoài nước. Chính mối quan hệ tốt đẹp ấy đã cho tôi được tiếp cận được một số nhà văn nhà thơ tên tuổi quốc tế đang có những tình cảm sâu đậm, chân thành, hữu nghị về đất nước Việt Nam. Một trong những văn nghệ sĩ mà tôi đã từng gặp gỡ, thường xuyên giao tiếp, liên hệ với sự quý trọng, tin cậy là nhà thơ người Mỹ: Fred Marchant.

 

         Nhà thơ GS.TS. Fred Marchant hiện nay là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk, Boston; nguyên là trung úy quân cảnh Mỹ tại Okinawa. Trong thời gian phục vụ trong quân ngũ, ông đã rất sốc trước thông tin vụ lính Mỹ thảm sát thường dân Việt Nam tại Mỹ Lai vào ngày 16- 3- 1968. Khi bị điều động sang Việt Nam tham chiến ông đã viết đơn kiện gởi các tòa án quân sự Mỹ với lý do ông là một sĩ quan tình nguyện, không chấp nhận cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam và ông đã thắng kiện.

 

         Từ thái độ chống chiến tranh, ông càng chú tâm tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, nhân văn, văn học nghệ thuật cùng những giá trị văn hóa, tâm linh của người Việt. Mối thiện cảm dành cho đất nước, con người Việt Nam trong tâm hồn ông được lớn dần, sâu đậm dần theo thời gian.

 

         Fred Marchant là tác giả của ba tập thơ: Tipping Point, đoạt giải của giải thưởng năm 1993 Washington, Full Moon Boat, House on Water, House in Air và nhiều tiểu luận văn học được đăng tải trên nhiều tạp chí. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston. Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.

 

         Tháng 7-1995 khi tôi cùng đoàn Nghệ thuật ca Huế sang Mỹ biểu diễn trong chương trình Liên hoan Âm nhạc dân tộc toàn nước Mỹ tại thành phố Lowell bang Massachusetts, nhà thơ Fred Marchant là một trong những người Mỹ tích cực tận tình giúp đỡ đoàn trên nhiều mặt. Ngoài thời gian đoàn biểu diễn tôi đã lang thang cùng vợ chồng nhà thơ Fred Marchant trong phố chiều và nghe ông hỏi thăm về Việt Nam và Huế với lời hứa hẹn sẽ cố gắng thực hiện những chuyến sang thăm Việt Nam, thăm Huế và sáng tác.  

 

         Một trong những bài thơ của ông về Việt Nam được độc giả Huế trân trọng đón đọc là bài thơ Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc đăng trên tạp chí Sông Hương số 179- 180 tháng 1 – 2- 2004 do Tô Diệu Linh chuyển ngữ, tựa đề của bài thơ là Viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau chiến tranh do Mỹ gây ra:

 

          “… Một cây chuối đầy đủ lá gập xuống bên chiếc thuyền một người đàn ông dáng vẻ nghiêm nghị: Đó là hình ảnh về sự tang tóc của tôi.

 

          Một hình ảnh khác: Chính tôi lúc này ở đằng trước con đại bàng, quả địa cầu và cái neo gấp lạ(1) của quân đoàn tay phải giơ lên(2) và mắt tôi không để ý đến bất cứ cái gì cả.

 

         Đứng ngay bên cạnh tôi là cha mẹ tôi, mắt họ cũng có vẻ lạ thường và trống vắng.

 

         Đó là vào năm 1968, và chẳng ai trong chúng tôi biết chúng ta đang làm gì cả.

 

         Đó là lý do tại sao bây giờ tôi ghét Hartford(3) là lý do tại sao tôi lái xe vòng vòng quanh thành phố, là tại sao tôi bị lạc giữa xa lộ để dẫn tôi đến chỗ ghi danh đi lính tình nguyện.

 

         Hình ảnh trên truyền hình quay quanh hình ảnh biểu tình chống đối, đánh bằng dùi cui, và một giọng phát thanh viên cất lên nói về cuộc chiến tranh “không được nhiều người ủng hộ” đó…” 

 

         Theo nhà thơ Fred Marchant chuyến về thăm Huế năm 1997 là lần có nhiều kỷ niệm đẹp trong quá trình sáng tác của ông. Với Huế ông thường có những hồi ức về một thời chiến tranh khốc liệt. Dằn vặt và trăn trở như trong hồi ký Huế trong đêm - nguyên cớ một bài thơ của ông được trích dẫn dưới đây:

 

          “… Dòng sông đêm nay đẹp một cách lạ lùng, tôi nhủ thầm. Những chiếc thuyền giấy nho nhỏ do khách trên sông thả trôi theo dòng nước mang theo những cây nến. Những chiếc thuyền rồng - một loại thuyền dài gắn máy nổ, được trang trí phía đầu và đuôi như hình một con rồng, với các du khách đang dùng cơm tối và thưởng thức những bản nhạc cổ điển Việt do một đoàn hợp tấu trình diễn. Tôi có thể nghe thấy văng vẳng tiếng ca, tiếng trống tiếng phèng mặc dù xe cộ vẫn rộn ràng qua lại trên cầu. Trong bữa ăn tôi giữ im lặng. Nhìn những người bạn tôi trong khu vườn lộ thiên của nhà hàng, dưới ánh sáng của những ngọn nến, tôi thấy họ toát lên một phong cách thật đẹp. Tôi không thể quên được ánh mắt của họ như sáng lên với tình bạn và hạnh phúc. Tự nhiên tôi cảm thấy thật biết ơn đã được ngồi đó bên cạnh bạn bè, và ngay khi có cảm giác đó, tôi hiểu tại sao tôi đã không thể nhớ, đã không thể đọc được bài thơ nào ở Đàn Nam Giao.

 

         Khi Võ Quê yêu cầu tôi đọc thơ, tâm trí tôi đang chất đầy những ý nghĩ về ý nghĩa của vị trí tôi đang đứng. Tôi không nghĩ tới những án thờ hay những nhà vua xa xưa; thực ra tôi đang nghĩ tới cuộc chiến đã qua, và biết bao người Việt và Mỹ đã ngã xuống ở Huế. Tôi có cảm giác họ đang ở quanh tôi như xương thịt tôi đang đứng đó, và tôi có cảm giác, mặc dầu không thể biết một cách đích xác cảm giác đó như thế nào, phải có bổn phận giữ một phút im lặng vì họ và cho họ. Tôi không hề dự tính điều đó, và tôi cũng không hề nghĩ như thế khi sự việc xảy ra. Nhưng khi ngồi ăn với các người bạn, thầm lặng viết một bài thơ trong đầu, tôi nhận ra là tôi đã im lặng vì có lý do: im lặng để tôn kính và tưởng nhớ tất cả những người đã không còn nữa với chúng ta. Khi buổi gặp mặt sắp chấm dứt, tôi đứng dậy đề nghị một lời chúc. Tôi muốn chúc Võ Quê, và tất cả những người bạn của tôi. Lời chúc của tôi tối hôm đó là bản nháp đầu tiên của bài thơ mà sau đó tôi tiếp tục làm suốt đêm. Đây là bản sau cùng của nó:

 

Huế trong đêm Đàn Nam Giao

 

Đôi khi tôi nghĩ Huế là trung tâm của vũ trụ,

 

nơi hàng ngàn con mắt hướng về chúng ta.

 

Con mắt lặng lẽ của vầng trăng đầy với mây

 

Con mắt cháy bỏng của bó nhang

 

chen vào mặt đá

 

Con mắt hoành tráng của sân đình hoàng đế,

 

tấm đá cẩm thạch biết nói.

 

Con mắt hồ nghi của người đàn bà khấn cầu trên bậc thang nhòe bóng tối.

 

Con mắt sáng quắc của đèn xe.

 

Và những chấm sáng lung linh của ngọn nến sông ẵm trên tay

 

Những con mắt của bao người không còn nữa.

 

Và những con mắt hôm nay của bè bạn, còn đây.

 

NGUYỄN BÁ CHUNG dịch

 

          Trong khi tôi đang thực hiện trang viết này về Fred Marchant thì nhà văn Tô Nhuận Vỹ từ Hà Nội đã điện vào cho biết các nhà thơ Fred Marchant, Kevin Bowen, Nguyễn Bá Chung, Martha Collins, nhà văn Larry Heinemann (Mỹ)… đang có mặt tại Hà Nội để dự Hội nghị Quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới lần thứ II do Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì được diễn ra từ ngày 5 đến 10- 1- 2010 tại Quảng Ninh. Qua làn sóng điện thoại tôi bồi hồi xúc động khi nghe giọng Fred Marchant: “Tôi rất nhớ Vo Que, tôi nhớ Huế! Rất tiếc lần về Việt Nam lần này tôi không được gặp Vo Que. Hy vọng sẽ gặp lại! Hy vọng!”. Nhân dịp này tôi không quên khoe với Fred Marchant về việc tôi đang viết một bài báo về Fred Marchant và Fred Marchant lại rối rít dặn dò: “Nhớ gởi email bài viết ấy cho tôi. Và đừng quên tôi nhé!”.

 

         Sẽ không quên đâu Fred Marchant! Fred Martchant đã là người bạn thơ đồng điệu, thâm tình mà tôi hằng quý mến. Khát vọng hành tinh này luôn hòa bình, không chiến tranh đã mãi mãi sống động trong tâm thức những nhà thơ trên mọi miền châu lục. Dẫu không được gặp Fred Marchant trong dịp nhà thơ về Việt Nam đầu năm 2010 nhưng dù sao chúng ta cũng đã tiếp cận tình nhau qua làn sóng. Và tôi lại muốn thì thầm với Fred Marchant một câu thật nhỏ: “Sang Việt Nam chuyến này đừng quên viết những bài thơ nghe Fred Marchant!”.

 

Huế, 3- 1- 2010.

 

----------

 

1. Con đại bàng, quả địa cầu và cái mỏ neo là biểu tượng của quân Marine, lính thủy đánh bộ của Mỹ.

 

2. Giơ tay phải lên để thề phục vụ cho đất nước.

 

3. Một thành phố của bang Connecticut nơi Fred ghi danh tình nguyện đi lính, ngay sau khi vừa tốt nghiệp đại học.

 

 

 

CA HUẾ TRÊN ĐẤT MỸ - NHỮNG KỶ NIỆM

 

Chuyện diễn ra cách nay đã nhiều năm, nhưng với tôi việc thực hiện chương trình ca Huế trên đất Mỹ năm 1995 đã sống động trong hồi ức, tình cảm tôi theo dòng thời gian.

 

          Nhận lời mời của Hội đồng quốc gia vì nghệ thuật truyền thống Hoa Kỳ (National Council for the Traditional Arts), đoàn nghệ sĩ thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tham dự Festival dân ca tân nhạc tại thành phố Lowell, bang Massachusetts, Hoa Kỳ từ ngày 25-7.1995. Lowell: một thành phố công nghiệp đầu tiên của nước Mỹ với kỹ nghệ dệt - đã tràn ngập du khách từ nhiều miền, nhiều đất nước khác nhau về dự Festival trong những ngày cuối tháng 7-1995. Một không khí lễ hội. Một sắc thái bình yên dân dã. Một không gian thoáng đạt mà sâu lắng trên thành phố nhỏ nhắn dễ thương bên dòng sông hiền hòa Marimack. Hoa tím đáng yêu! Những đập nước ngăn dòng. Chim bồ câu. Bầy vịt trời... Mùa hè Lowell tràn ngập sắc màu nhạc hội thiên nhiên và con người đồng cảm, đồng điệu với âm nhạc, với lời ca muôn màu muôn vẻ.

 

          Đây là lần đầu tiên một đoàn ca nhạc Việt Nam từ dòng sông Hương thầm lặng của Huế dấu yêu được tham gia vào hội diễn hàng năm, đặc biệt vừa lúc Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa bang giao giữa hai nước Việt Nam và Mỹ. Qua ba ngày biểu diễn ở công viên Market, ở giáo đường thành phố Lowell, âm nhạc Huế nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung đã được sự tán thưởng nhiệt thành của những người mộ điệu Mỹ và Việt kiều.

 

         Theo các tờ báo lớn ở Massachusetts như Boston Globe, Boston Herald... thì năm nay có đến hơn 200.000 người dự đại nhạc hội này - một con số ít thấy trong hội diễn từ chín năm qua.Từ những miền đất xa xôi như Alaska, những làn điệu dân ca trữ tình đã dạt dào âm vang cuộc sống. Chàng trai và cô gái Eskimo luyến láy nhịp vui. Các đoàn nhạc Forth, Blues, Bluegrass, Jazz, boogic-pop... lần lượt qua các sân khấu với tài nghệ diễn xuất trữ tình điêu luyện. Riêng đoàn ca nhạc truyền thống Huế, đoàn duy nhất ngoài nước Mỹ đã đem đến cho ba ngày hội diễn những màu sắc độc đáo, phong phú qua tiết mục ca Huế, nhạc cung đình, dân ca...

 

          Những tràng pháo tay vang ngân rộn rã, khán giả Mỹ và Việt Nam đã đứng dậy bày tỏ sự nồng nhiệt trong tất cả các điểm diễn tại thành phố Lowell. Theo phong tục Mỹ, thái độ này cho biết đấy là sự quí trọng âm nhạc Việt Nam, ngợi ca chương trình thành công so với tất cả các đoàn tham gia hội diễn ca nhạc khác. Đây cũng là lý do khiến Hội đồng quốc gia vì nghệ thuật truyền thống Hoa Kỳ và ban tổ chức đánh giá rất cao đoàn ca nhạc Sông Hương với các nghệ sĩ Mạnh Cẩm (Nghệ sĩ ưu tú), Trần Thảo, Thúy Vân, Thu Hằng, Khánh Vân, Sĩ Thoại, Thái Hùng, Ai Hoa, Lệ Hoa qua sự giới thiệu và điều hợp chương trình của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong (Viện Đại học Kent States, Hoa Kỳ).

 

          Những ngày diễn ra lễ hội tại Lowell, tin tức được liên tục chuyển đi qua các hệ thống truyền thanh, truyền hình và báo chí. Đài truyền hình kênh 6 phát hình về đoàn và phỏng vấn giáo sư Nguyễn Thuyết Phong về mục đích, ý nghĩa nền ca nhạc Huế. Nhà báo Scott Alarik của báo Boston Globe (ngày 31-7-1995) đã nhận định về nhạc Huế qua các chương trình biểu diễn của đoàn: "Siêu việt, tinh tế và tỏa rộng không gian". Đây là lời nhận định ngắn gọn, đầy ý nghĩa.

 

           Ngày 1-8-1995, tại thủ đô Washington, đoàn được mời diễn tại thính phòng Carmichael, Bảo tàng Lịch sử Hoa Kỳ. Thính phòng này khang trang, sang trọng với kỹ thuật hiện đại thuộc tổ chức Samitheonean. Âm nhạc làm say mê khán giả, khiến chảy nước mắt những người đồng hương và làm xúc động những bè bạn Mỹ. Ông Hà Huy Thông, Phó phòng liên lạc Việt Nam tại Hoa Kỳ và các nhân viên ngoại giao cũng đến dự và tán thưởng nồng nhiệt buổi biểu diễn trên.

 

          Ngày tiếp theo, tại công viên Rubber Run, đoàn đã diễn một chương trình với sự tham dự của đông đảo là khán giả người Việt tại đây. Nhiều bà con đã bày tỏ lòng thương nhớ quê nhà khi nghe các giai điệu mượt mà của khúc Nam bình sâu lắng, của sự rộn rã trong tiết tấu hò giã gạo.

 

         Tại New Haven, thành phố kết nghĩa Huế, đoàn cũng đã gặt hái thành công tốt đẹp. Tình cảm lưu luyến của bè bạn Mỹ, của những người Việt ở đây được biểu hiện một cách đậm đà. Nhiều bạn sinh viên trẻ đã đến tiếp xúc với nghệ sĩ và nói lên tình cảm dấu yêu về quê nhà khi nghe các làn điệu dân ca và ước mơ một ngày về xây dựng quê hương đang đổi mới.

 

         Buổi diễn cuối cùng tại Liconln Center, một trung tâm nghệ thuật lớn ở New York trong chiều 4-8-1995 cũng đã để lại nhiều ấn tượng tốt trong khán giả Mỹ và Việt, khán giả đã đứng lên tán thưởng khi chương trình chấm dứt. Đại diện phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, đồng chí Nguyễn An Trung, đã tặng hoa và phát biểu nhiều cảm tưởng tốt về chương trình nghệ thuật của đoàn.

 

         Qua tám chương trình biểu diễn, qua thực tế làm việc, tiếp xúc, chúng tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của nhiều người Việt cũng như một số bạn bè Mỹ là nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu... Đặc biệt là trong thời gian đoàn lưu diễn tại Mỹ, Trung tâm William Joiner đã tích cực giúp đỡ đoàn trên nhiều mặt. Các thành viên của Trung tâm như nhà thơ Bowen Kenvin, nhà thơ Fred Marchant, nhà thơ Nguyễn Bá Chung đã theo đoàn trong suốt quá trình tổ chức biểu diễn. Vợ chồng nhà thơ Bowen Kevin đã mời đoàn dự cuộc chiêu đãi ngoài trời tại nhà riêng trong buổi chiều 30-7-1995. Từ đây, chúng tôi đã có dịp gặp gỡ, làm quen với một số thành viên khác của Trung tâm, bà con thân hữu Việt kiều có mối quan hệ gắn bó với Trung tâm. Và cũng từ thời điểm này trở về sau tôi đã có nhiều dịp trao đổi, giao lưu với Trung tâm William Joiner trên lĩnh vực văn học; giúp tôi thể hiện tốt các hoạt động mang tính đối ngoại nhân dân, đoàn kết và hữu nghị. Chính nhờ mối quan hệ tốt đẹp đó đã giúp cho đoàn niềm hưng phấn để biểu diễn, góp phần tăng thêm sự hiểu biết về âm nhạc Việt Nam, cụ thể là âm nhạc Huế trong công chúng Mỹ và gợi lên bao niềm thương nhớ trong tâm hồn người Việt Nam tình tự quê nhà, lòng yêu nước lắng sâu

 

TA TÌM ĐẾN TÌNH NHAU HY VỌNG

 

Những năm tháng hoạt động văn học nghệ thuật tại thành phố Huế, thông qua Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế trong nhiều nhiệm kỳ chúng tôi đã có dịp đón tiếp nhiều nhà văn của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính mối quan hệ tốt đẹp ấy đã cho chúng tôi có dịp tiếp cận được một số nhà văn nhà thơ tên tuổi Mỹ thuộc Trung tâm William Joiner (Mỹ) đang có những tình cảm sâu đậm, chân thành, hữu nghị về đất nước Việt Nam. Hôm nay, trong không khí ấm cúng thân tình của diễn đàn văn học “Nhìn lại và phát triển” nhân kỷ niệm hai mươi năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao văn học giữa Hội Nhà văn Việt Nam và Trung tâm William Joiner, tôi xin được viết về một số kỷ niệm đẹp, thân tình các nhà văn Mỹ mà tôi đã từng gặp gỡ, thường xuyên giao tiếp, liên hệ với sự quý trọng: Nguyễn Bá Chung, Larry Heinermann. 

 

NHÀ THƠ NGUYỄN BÁ CHUNG - NGƯỜI NỐI ĐÔI BỜ VĂN HỌC

 

          Nhà thơ Nguyễn Bá Chung sinh năm 1949 tại Kim Thanh, Hải Dương. Vào Sài Gòn sinh sống với gia đình năm 1955. Năm 1972, ông sang Mỹ du học. Sau khi tốt nghiệp, ông ở lại Mỹ, Giáo sư trường Ðại học Massachuset (Boston - Hoa Kỳ). Ông là nhà thơ, bỉnh bút, dịch giả, ông đã từng dịch và xuất bản thơ chữ Hán sang Việt ngữ và Anh ngữ. Ông là đồng dịch giả tiểu thuyết Thời xa vắng của nhà văn Lê Lựu - A Time Far Past (1997 với Kevin Bowen và Ngô Vĩnh Hải). Ông cũng là đồng dịch giả các tuyển tập thơ song ngữ của văn học Việt Nam: Mountain River, Vietnamese Poetry From The War 1948 - 1993 (1988, với Kevin Bowen, Bruce Weigl). 6 Vietnamese poets Nguyễn Bá Chung, Kevin Bowen, Martha Collins. Distant Road - Selected Poems of Nguyen Duy  (1999, với Kevin Bowen). From A Corner of My Yard (2006, với Fred Marchant, LadyBorton & Trịnh NgọcThái.) Ly - Tran Zen Poems of Vietnam - Thơ thiền Lý Trần Nguyễn Duy (chủ biên), Kevin Bowen, Nguyễn Bá Chung, 2008. Với một bút lực sung mãn, ông đã cho xuất bản các tập thơ Nguồn thơ NXB Hội Nhà văn 2009. Cỏ nội thơ 1995. Mưa ngàn thơ NXB Văn nghệ 1996. Ngõ hạnh thơ NXB Văn hóa Thông tin 1997. Tuổi ngàn năm từ buổi sơ sinh thơ NXB Hội Nhà văn 1999. 

 

          Nhà thơ Nguyễn Bá Chung là một trong những nhà thơ Mỹ gốc Việt về thăm Huế nhiều lần. Hầu như lần nào ông đến đất cố đô này tôi thường có dịp gặp gỡ, chuyện trò. Khi thì cùng ông với một số anh chị em văn nghệ sĩ Huế lênh đênh trên một con thuyền xuôi dòng sông Hương rồi neo đậu cuối Cồn Hến. Lúc thì đưa ông lên chùa Huyền Không Sơn Thượng bằng xe gắn máy đàm đạo với các nhà sư… Qua nội dung những lần hàn huyên ấy, tôi tìm thấy nơi nhà thơ Nguyễn Bá Chung có một tâm hồn Việt lắng sâu, thuần khiết như chính những trang thơ giàu cảm xúc, nhuần đượm chất thiền, chan chứa mạch nguồn dân tộc của ông:

 

Tôi về trồng cải vườn xưa 

 

Tháng năm sương muối bây giờ cỏ hoang

 

Tôi về lấy lẽ bồ hòn 

 

Kết duyên trăng gió cho tròn đắng cay

 

Tôi về ở với mai này 

 

Ngày không không ở với ngày không không. 

 

(Muối sương – Thơ Nguyễn Bá Chung)

 

           Từ góc độ “20 năm nhìn lại và phát triển”, trong nhiều năm qua, chúng tôi đã đánh giá rất cao về vai trò “sứ giả” của nhà thơ Nguyễn Bá Chung trong cương vị là một thành viên của Trung tâm William Joiner. Ông là một trong những người đã cùng Trung tâm có công giới thiệu văn học Việt Nam cũng như giới thiệu nhiều nhà văn tên tuổi Việt Nam đến cùng công chúng Mỹ. Trong bài viết kỷ niệm 25 năm thành lập Trung tâm William Joiner đăng trên tạp chí Sông Hương số 225-11-2007, nhà thơ Nguyễn Bá Chung tâm sự: “Nhìn lại chặng đường 25 năm vừa qua, tôi nghĩ là Trung tâm Joiner đã có một đóng góp rất lớn cho sự hòa giải giữa hai dân tộc Việt - Mỹ, nhất là trong suốt những năm cấm vận ngặt nghèo từ 1975 tới 1994. Cái lớn của sự đóng góp đó không phải do tài chánh, do quyền lực, mà là cái lớn ở tấm lòng. Chính vì ở tấm lòng nên mới có thể hòa giải, mới có thể có những tình bạn chân thực giữa những người Việt và người Mỹ. Và từ tấm lòng đó mới có thể đi đến thơ văn. 

 

           Với tấm lòng đó làm cơ sở, tôi có thể yên tâm nhìn tới phía trước.

 

NHÀ VĂN LARRY HEINEMANN – VỚI VIỆT NAM SÂU ĐẬM NGHĨA TÌNH

 

          Qua sự giới thiệu của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, tôi được biết nhà văn Larry Heinemann sinh năm 1944 ở Chicago (Hoa Kỳ), là một tiểu thuyết gia với các tiểu thuyết, hồi ký liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Larry Heinemann đã từng ở chiến trường Việt Nam với sư đoàn bộ binh 25, tham chiến tại khu vực gần núi bà Đen Tây Ninh vào năm 1967 -1968. 

 

Cũng như nhiều lính Mỹ khác, Larry Heinemann cũng đã phải nếm trải từng nỗi kinh hoàng, khiếp đảm của chiến tranh; không tránh được một ám ảnh bởi “hội chứng Việt Nam” và từ đó với ông viết văn như là một biện pháp hữu hiệu nhằm giải tỏa những dằn vặt, bức xúc của một thời tham chiến và văn chương với ông đã trở thành một phương pháp trị liệu tốt. Tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Hà Lan, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, và Việt Nam. 

 

          Ông đã hoàn thành ba tác phẩm về chiến tranh Việt Nam là Giáp lá cà (tiểu thuyết), Trở về núi Bà Đen (ký), Chuyện của Paco  Chuyện của Paco đã được công chúng chú ý, đã nhận giải thưởng quốc gia Hoa Kỳ năm 1978; đây là cuốn sách của ông lần đầu tiên được dịch ra tiếng Việt và được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành vào mùa Thu năm 2010… Chuyện của Paco kể chuyện 93 người thuộc đại đội Alpha khi tham chiến tại Việt Nam đã bị chết, chỉ còn lại một mình Paco. Và câu chuyện do chính 93 oan hồn lính đã bị chết kể lại. Dưới bút pháp của Larry Heinemann chuyện trở nên ly kỳ, hấp dẫn, cuốn hút người đọc. 

 

          Bằng một tình yêu Việt Nam sâu đậm, nhà văn Larry Heinemann đã nhiều lần sang Việt Nam, ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc, giao lưu, nói chuyện với bạn đọc Việt Nam. Riêng với thành phố Huế cổ kính, thơ mộng ông cũng đã đến nhiều lần mà chuyến về ở Huế lâu nhất là sáu tháng vào năm 2003 để nghiên cứu, lấy tư liệu tìm hiểu về văn học dân gian Việt Nam và Thừa Thiên Huế. Chính thời gian đó, tôi đã có dịp tìm hiểu thêm về tình cảm, trí tuệ của các nhà văn Mỹ khi họ thật sự gắn bó, ưu ái đến một đất nước mà họ đã từng tham chiến. Tôi trực nhận rằng vượt lên trên mọi dị biệt, mọi đối nghịch, các nhà văn Mỹ ở Trung tâm William Joiner và các nhà văn Việt Nam luôn đề cao các giá trị nhân văn sâu sắc cũng như khát vọng hòa bình trên khắp hành tinh. Cuộc sống quý giá từ trái đất này đáng trân trọng biết bao! 

 

          Để kết thúc bài viết này cho phép tôi mượn lời của Larry Heinemann như một sự đồng cảm lớn lao về tình yêu về lòng nhân đạo, về thiên chức của nhà văn và hy vọng “20 năm nhìn lại và phát triển” của chúng ta cũng được khơi nguồn từ ấy:

 

          "Nhân đạo tức là biết xúc động, biết cảm thông, thấy "động tâm" (empathy) trước tha nhân và muôn loài vạn vật của đất trời. Từ một quang cảnh bao la kỳ vĩ cho tới những vật nhỏ mọn như một cái lông chim, một hòn đất, một cái vỏ bào quăn queo; đôi mắt của một con kiến,, một cái vẫy tay chào...”   

 

Huế, 7-3-2012

 

   ĐÔI KỶ NIỆM NHỚ ĐỜI VỚI NHÀ THƠ THANH HẢI   

 

         Những năm 70, khi còn là một sinh viên trong phong trào đấu tranh yêu nước của đô thị miền Nam, từ thành phố Huế, mặc dù bị chính quyền Sài Gòn kiểm soát nghiêm ngặt nhưng tôi cũng đã may mắn có nhiều cơ hội tiếp cận với văn học miền Bắc, vùng giải phóng qua những nguồn sách báo được bí mật gửi về từ chiến khu Thừa Thiên Huế. Làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng cũng là hai kênh thông tin cho tôi được hiểu biết, gần gũi hơn với những tên tuổi các nhà thơ, nhà văn “Trường Sơn” và ở bên kia dòng sông Bến Hải. Một trong những nhà thơ tài hoa “Trường Sơn” mà tôi mến mộ, yêu quý từ những tháng ngày này là nhà thơ Thanh Hải.

 

          Tháng 9 năm 1973, sau một năm bị tù ở Côn Đảo, tôi được Thành ủy Huế đưa lên chiến khu một thời gian ngắn rồi ra Hà Nội. Chính nhờ chuyến đi này mà tôi có dịp gặp gỡ nhà thơ Thanh Hải tại Khu ủy Trị Thiên cũng như được tiếp xúc trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, gặp lại nhà thơ Trần Phá Nhạc trước đó tại mật khu Thành ủy Huế mấy ngày. Thời gian đầu ngắn ngủi ở Trường Sơn tôi luôn có cảm giác phấn chấn, lâng lâng… Có lẽ do đã trải qua những ngày tù ngục gian khổ, khắc nghiệt, mất tự do ở hải đảo xa xôi nên khi được sống trong một không gian xanh của núi rừng hùng vĩ bên cạnh những người kháng chiến đầy hào khí cách mạng nên tôi có được trạng thái tình cảm ấy. Khi nghe có các anh Trần Hoàn, Thanh Hải, Tô Nhuận Vỹ… đang có mặt tại Khu ủy Trị Thiên tôi vô cùng mừng rỡ. Với nhạc sĩ Trần Hoàn thì trong những năm 70, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ yêu nước ở đô thị miền Nam đang trở nên cao trào, từ vùng địch tạm chiếm, tôi cũng như tuổi trẻ học đường Huế đã vô cùng xúc động khi nghe trên làn sóng Đài Phát thanh Giải phóng phát bài hát Lời ru trên nương, phổ từ bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Hình ảnh em bé Akay qua giai điệu mượt mà, sâu lắng, rất tâm cảm đã gợi lên trong tuổi trẻ Huế tình yêu núi rừng đang đau thương, quằn quại dưới làn bom đạn Mỹ. Và bài hát Em thương người trong Huế đấu tranh của nhạc sĩ Trần Hoàn với bút danh Hồ Thuận An. “Mưa lâm thâm ướt dầm lá khế, em thương người trong Huế đấu tranh…” với sự đồng cảm của anh dành cho phong trào đấu tranh chống Mỹ của sinh viên học sinh Huế đã rất kịp thời, hiệu quả. Những bài hát của nhạc sĩ Trần Hoàn trong giai đoạn này đã góp phần tiếp lửa cho những cuộc xuống đường đốt xe Mỹ trên đường phố Huế của đồng bào, thanh niên, sinh viên học sinh Huế. Với nhà văn Tô Nhuận Vỹ thì tôi đã rất quen tên anh bởi tôi cũng đã từng cầm trực tiếp trên tay các tập Em bé sông Hương, Em bé làng chài và thích thú đọc những truyện ngắn của anh để rồi sau này tôi cứ nhớ hoài một nhân vật thiếu niên có tên Phóng Tẹo. Thế là, tôi háo hức và chờ đợi một cuộc hội ngộ kỳ thú sẽ được diễn ra nơi chiến khu xanh thẳm với các tên tuổi mà mình chỉ mới “văn kỳ thanh” mà chưa “kiến kỳ hình”. Vào khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, nhà thơ Thanh Hải chỉ xuất hiện một mình bởi nhạc sĩ Trần Hoàn và nhà văn Tô Nhuận Vỹ đều có việc đột xuất nên tôi không có dịp diện kiến hai anh ấy. Một thoáng tôi buồn. Lòng như chùng xuống. Nhưng tôi kịp thấy lại niềm vui bởi tôi còn được đón tiếp nhà thơ Thanh Hải bằng xương bằng thịt. Trước mắt tôi là một Thanh Hải người tầm vóc nhỏ nhắn, đôi mắt sáng và nụ cười phúc hậu trên gương mặt hiền lành. Tôi không ngờ đằng sau nét đằm thắm, chơn chất ấy lại tiềm ẩn, chất chứa một nguồn thơ kháng chiến chống ngoại xâm, yêu nước nồng nàn, ngời ngời sắc lửa và máu. Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa nhà thơ Thanh Hải và tôi diễn ra nhẹ nhàng, dễ thương, không sôi nổi, sinh động như tôi đã hình dung trước đó. Đầu tiên, anh trao cho tôi món quà của anh Trần Hoàn gửi tặng là hai cân đường trắng, hai hộp sữa, một hộp dao lam. Tôi biết món quà này thật vô cùng quý giá trong bối cảnh khó khăn của chiến trường lửa đạn, thiếu thốn đủ mọi thứ.

 

          Nhà thơ Thanh Hải sau khi hỏi thăm tôi về tình hình thời sự, về chuyện bà con, chuyện phong trào đấu tranh đòi thống nhất hòa bình, đòi Mỹ rút quân, đòi quyền dân sinh dân chủ… của đồng bào, thanh niên, sinh viên học sinh dưới Huế đã cho tôi biết về cuộc sống của Trường Sơn kháng chiến, của những lần cán bộ tuyên huấn xuống công tác vùng đồng bằng; về những cảm xúc lắng sâu mỗi khi anh cùng các chiến hữu hoạt động bí mật trong dân; về công việc lặng thầm sáng tác… Giọng anh nhỏ nhẹ, chậm rãi, khúc chiết. Qua câu chuyện kể của anh tôi đã mường tượng được sự khốc liệt, gian khổ, truân chuyên của chính bản thân anh cùng biết bao cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc ít người ở Trường Sơn dưới làn bom đạn của kẻ thù. Ngôi lán mà tôi và anh Thanh Hải gặp nhau được cất bên cạnh một dòng suối lớn. Tiếng suối chảy róc rách, bổng trầm; làn nước suối trong xanh xuyên qua những viên đá tảng tạo cho tôi - người vừa lên với núi ngàn - một cảm giác thú vị, lãng mạn. Tôi tự nghĩ thế nào đêm nay mình cũng sẽ có thêm một “đêm không ngủ” với nhà thơ Thanh Hải và tha hồ mà hàn huyên. Nhưng thật bất ngờ đối với tôi khi đúng 6 giờ chiều hôm ấy, nhà thơ Thanh Hải đứng lên chào: “Thôi, mình về đây! 6 giờ rồi, mình phải ngủ sớm. Mai lên đường ra Bắc mạnh khỏe nghe!”. Tôi bỡ ngỡ, hụt hẫng, lúng túng một lúc rồi nói: “Em chúc anh ở lại bình yên! Em mong sẽ được gặp lại anh trong một ngày gần nhất”. Nhìn nhà thơ Thanh Hải rời khỏi lán, lòng tôi không khỏi bùi ngùi. Tôi chợt nhận ra một điều, đúng là anh cần phải giữ gìn sức khỏe. Giấc ngủ đến sớm, điều độ là một sự cần thiết, dài lâu cho những người kháng chiến trường kỳ gian khổ như anh.

 

            Tháng 3 năm 1975, thành phố Huế được giải phóng. Từ thời điểm này trở đi mái nhà chung là Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế rồi Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, 26 Lê lợi Huế đã lần lượt tiếp nhận văn nghệ sĩ từ bốn nguồn: văn nghệ sĩ tại thành phố Huế, văn nghệ sĩ ở Trường Sơn, văn nghệ sĩ tập kết ra miền Bắc trở về, văn nghệ sĩ sinh trưởng tại miền Bắc về với cố đô. Không khí thống nhất, đoàn kết, thương yêu thật sinh động rõ nét nơi này. Đầu năm 1976, theo sự điều động của tổ chức, tôi được rời Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế để về công tác tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế do nhà thơ Thanh Hải làm Tổng thư ký. Duyên văn nghệ đã cho tôi gần gũi, gắn bó hơn với nhà thơ Thanh Hải. Được làm việc bên cạnh nhà thơ Thanh Hải tôi càng hiểu và thán phục nhân cách lớn của nhà thơ. Nhà thơ Thanh Hải không có một toan tính chi cho riêng mình trong cuộc sống. Cùng lúc với công tác quản lý, tập hợp văn nghệ sĩ chung sức chung lòng xây dựng phong trào văn học nghệ thuật tỉnh nhà ngày một lớn mạnh, anh lặng lẽ sáng tác những bài thơ mới. Một trong những bài thơ được người yêu thơ trong cả nước đồng cảm là “Mùa xuân nho nhỏ”. Khi nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc “Mùa xuân nho nhỏ” thì tác dụng, hiệu quả tốt đẹp của bài thơ này càng lan tỏa rộng lớn trong đời sống văn học nghệ thuật của cả nước.

 

           Bước sang năm 1980, nhà thơ Thanh Hải bị bệnh hiểm nghèo. Đây cũng là hệ quả tất yếu của một con người đã trải qua những năm tháng trường kỳ gian khổ nơi rừng sâu, núi thẳm. Thỉnh thoảng vào bệnh viện thăm anh, chứng kiến cảnh anh quằn quại trong cơn đau đớn tột cùng có khi tôi không cầm được nước mắt. Tôi xoa đôi bàn tay lên bụng anh đang căng phồng mà xót xa, thương cảm. Thương nhà thơ Thanh Hải với cơn bệnh nan y, thương chị Thanh Tâm và các con trai đang trong một hoàn cảnh ngặt nghèo.

 

          Trên giường bệnh, dù cơn đau giày vò, hành hạ cơ thể mỗi ngày, nhưng nhà thơ Thanh Hải vẫn đã rất tinh tế khi hiểu được những nỗi nhọc nhằn của người vợ hiền là chị Thanh Tâm trong quá trình chăm sóc anh để viết nên những dòng thơ nồng nàn, sâu nặng về tình nghĩa vợ chồng:

 

Khi anh nằm xuống đó

 

Giữa bát cơm em đơm

 

Giữa chén cháo em múc

 

Giữa bộn bề bếp núc

 

Em nâng cho anh nằm

 

Giữa những cơn khóc thầm

 

Em quạt cho anh ngủ

 

...

 

           Năm 1983, khi tạp chí Sông Hương ra số đầu tiên, bài thơ trên của nhà thơ Thanh Hải đã được in trang trọng với lời tòa soạn: “Đây là một trong những bài thơ của nhà thơ Thanh Hải trong những ngày cuối đời. Bài thơ này chúng tôi chép trong sổ tay của chị Thanh Tâm, vợ anh. Bài thơ không có đầu đề”. Khi tạp chí Sông Hương số 1 phát hành khắp thành phố Huế bằng hình thức dùng xe phát thanh lưu động, tôi đã rất xúc động khi đọc bài thơ ấy cho đông đảo bà con, bạn đọc Huế nghe. Và tôi hiểu, chính bài thơ giàu nghĩa tình vợ chồng của nhà thơ Thanh Hải đã góp một phần thành công trong việc phát hành tạp chí Sông Hương số ra mắt đầu tiên.

 

           Trong thời điểm viết những dòng nhớ và thương nhà thơ Thanh Hải này tôi cũng đang những ngày tháng vào ra bệnh viện. Không phải để nằm viện như anh mà tôi chăm sóc vợ tôi đang trong cơn bệnh hiểm nghèo. Nhớ và thương anh, tôi sẽ noi gương anh để biết thương yêu vợ mình nhiều hơn nữa. Bài thơ viết cho chị Thanh Tâm của nhà thơ Thanh Hải đã nói lên sức mạnh tinh thần của thi ca trong cuộc sống muôn nơi, muôn thuở!

 

Huế, 17- 5- 2010.

 

                            DU LỊCH CÙNG THI CA HUẾ

 

           Bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa vật thể mà ai cũng biết, Huế còn là xứ sở của thơ ca, âm nhạc, nghệ thuật… Chỉ trong một không gian thành phố thôi mà Huế đã hình thành nhiều câu ca dao, nhiều câu hò, điệu hát ru… gợi nên hình ảnh một cảnh quan thiên nhiên trữ tình, thơ mộng cũng như sinh hoạt đời thường của người dân Huế xưa, nay. Từ việc bắt gặp ngọn nguồn thơ ca ấy, lâu lắm rồi, tôi cứ ôm ấp hoài về một cuộc hành trình du lịch Huế theo những địa danh được nhắc đến trong câu hò tiếng hát của người xưa. Biết đâu cái ý tưởng tâm thành của tôi trong tương lai Huế sẽ có thêm một sản phẩm du lịch mới để phục vụ du khách trong và ngoài nước với tên gọi: Du lịch cùng thi ca Huế.

 

           Này nhé! Xin mời cùng tôi chọn Phu Văn Lâu là điểm xuất phát đầu tiên. Trong khi chưa có một cô gái Huế với nghiệp vụ thuyết minh du lịch đi cùng trong tour đầu tiên này, tôi xin tình nguyện làm người hướng dẫn và cất giọng hò mái nhì quen thuộc với lời ca của thi sĩ Ưng Bình:

 

Chiều chiều trước bến Văn Lâu

 

Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm

 

Ai thương ai cảm

 

Ai nhớ ai trông

 

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

 

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

 

           Thông qua câu hò này du khách được biết thêm rằng đây là câu hò nhắc nhở đến cụ Trần Cao Vân và vua Duy Tân mật hẹn tại bến Văn Lâu để mưu chuyện chống Pháp. (Tiếng Hát sông Hương, trang 51, xuất bản năm 1972, Ưng Bình Thúc Giạ Thị). Những câu ca dao tiếp theo trong khu vực kinh thành này lại được ngân vang ngợi ca Đại nội với Ngọ Môn, kỳ đài Huế, điện Cần Chánh… nhưng đồng thời cũng nói lên nỗi bất hạnh của người phụ nữ một thời “sinh em ra phận gái chớ hỏi chốn kinh thành làm chi” bởi khi đã vào cung cấm rồi thì việc gặp lại cha mẹ, người thân nơi quê nhà yêu dấu ấy là điều không thể!

 

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

 

Kỳ đài ba cấp Phu Văn Lâu hai tầng

 

 

 

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

 

Một lầu vàng tám lầu xanh

 

Ba cửa thẳng hai cửa quanh

 

Sinh em ra phận gái chớ hỏi chốn kinh thành làm chi

 

Ai ơi chớ phụ đèn chai

 

Thắp trong Cần Chánh sáng ngoài Ngọ Môn.

 

          Rời Phu Văn Lâu, rời Đại nội, theo hướng tây thành phố Huế du khách tiếp tục đến cầu Bạch Hổ, tạm dừng chân nghe tiếp một bài ca khái quát cảnh quan non nước Thần kinh. Khúc âu ca đã trỗi giọng tình, quê hương thanh bình đang đón đợi khách muôn phương về chung cuộc hòa âm:

 

Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch

 

Non xanh nước biếc điện ngọc đền rồng

 

Tháp bảy tầng, Thánh miếu, chùa Ông

 

Chuông khua Diệu Đế trống rung Tam Tòa

 

Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua

 

Tả Thanh Long hữu Bạch Hổ đến đây đợi khách âu ca thanh bình.

 

            Chưa hết ngẩn ngơ với các công trình kiến trúc được nhắc đến trong những dòng lục bát nêu trên, Kim Long – một địa danh nổi tiếng với mười bốn chữ mượt mà gợi tình đã hiện lên trước mặt:

 

Kim Long có gái mỹ miều

 

Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi.

 

          Giai thoại vua Thành Thái lên tuyển nữ binh tại Kim Long theo cuốn “Giai thoại trào phúng trong thi ca xứ Huế” của Hoàng Trọng Thược xuất bản năm 1973 lại được đem hầu chuyện cùng du khách cùng mối cảm hoài về những cuộc tình hợp tan, bèo nước trên từng con nước sông Hương.

 

Tình về Đại Lược duyên ngược Kim Long

 

Đến đây là chỗ rẽ của lòng,

 

Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.

 

Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn,

 

Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long.

 

Sương sa, gió thổi lạnh lùng

 

Sóng xao, trăng lặn chạnh lòng nhớ thương.

 

          Sau chút cảm hoài sâu lắng nhớ nhớ, thương thương ấy, tháp Bảy tầng chùa Thiên Mụ linh thiêng chợt hiện. Tâm hồn du khách trở nên tĩnh tại, an nhiên. Gió sông Hương hiền hòa êm mát trong đôi dòng lục bát:

 

Gió đưa cành trúc la đà

 

Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương.

 

          Nhưng hình như Huế vốn là nơi thường có những nỗi đoạn trường, u uẩn nên từ hai câu tả cảnh chùa Thiên Mụ lại lồng vào “cái tình chi” khắc khoải đôi đường:

 

Gió đưa cành trúc la đà

 

Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương

 

Thuyền về xuôi mái dòng Hương

 

Đến đây tâm sự đôi đường đắng cay.

 

         Tạm bái biệt chùa Thiên Mụ, du khách tiếp cận các danh thắng khác:

 

Văn Thánh trồng thông

 

Võ Thánh trồng bàng

 

Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u.

 

         Qua câu ca du khách biết thêm cách quy hoạch cây trồng trên các công trình kiến trúc của kinh thành Huế. Bóng mát từ những hàng cây trong câu ca dường như cũng lung linh.

 

         Địa danh Hương Hồ, Long Hồ, Ngọc Hồ từ lâu nổi tiếng với biếc xanh cây trái, vườn tược xum xuê tươi tốt. Nơi đây nổi tiếng một thời các đặc sản vườn xanh: thơm, mít, dâu…

 

Đưa em cho tới làng Hồ

 

Em mua trái mít em bồ trái thơm

 

Trái thơm là trái thơm non

 

Bỏ vô hũ mắm ăn ngon như dừa.

 

         Tọa lạc ở làng Ngọc Hồ ven dòng Hương giang là  núi Ngọc Trãn với tên chữ dân giã là Hòn Chén nơi ngày xưa người Chàm thờ nữ thần Po Nagar, sau đó người Việt theo Thiên tiên Thánh giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thánh mẫu Thiên Y A Na, hằng năm có hai lễ hội lớn diễn ra nơi đây: “Tháng bảy giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”:

 

Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn,

 

Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long.

 

Sương sa, gió thổi lạnh lùng

 

Sóng xao, trăng lặn chạnh lòng nhớ thương.

 

         Tại điện Hòn Chén (điện Huệ Nam) làn điệu chầu văn ngân lên cùng vũ điệu thượng ngàn. Âm thanh cung đàn, giọng hát hòa quyện hương trầm cùng màu sắc lung linh nến đỏ hương hồng có lẽ đã làm du khách ngẩn ngơ hồn và cảm nhận một Huế hào hoa, lãng mạn, một Huế “có khi vui thú sơn hà, ba ngàn thế giới đâu là chẳng chơi…” mà ngã ba Tuần là điểm hẹn cho những ai phong lưu sành điệu.

 

Thuyền rồng năm chiếc chèo chơi

 

Ngã ba Tuần lãnh là nơi đi về.

 

         Vượt cầu Tuần sang bờ nam non ngàn núi biếc, Ngự Bình khiêm tốn tĩnh tọa hài hòa với dòng Hương êm đềm để từ đó Huế còn được gọi tên là non nước Hương Bình.

 

         Mượn hình dáng non Bình, mượn sắc màu nước sông An Cựu, người Huế muốn ngợi ca lòng chủy chung như nhất để đừng có những cuộc biệt ly sầu thảm, để người nữ, người nam khi đã tìm đến nhau bằng tình cảm lứa đôi thì quyến luyến, nâng niu đời nhau hết kiếp người:

 

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo

 

Sông An Cựu nắng đục mưa trong

 

Vì ai ăn ở một dạ hai lòng

 

Cho loan không ôm lấy phượng,

 

Phượng chẳng bồng lấy loan.

 

         Có một đặc sản Huế nay đã thất truyền nhưng khi đã nghe tên An Cựu thì ta không thể không liên tưởng, ấy là “gạo de”. Gạo de mà ăn với tôm rằn thì có nguồn dinh dưỡng tốt. Tinh thần hiếu hạnh của người Huế được đề cao bằng những hình tượng giản đơn như gạo với tôm cung phụng mẹ già. Ai hiếu thảo với mẹ cha, người ấy sẽ thành danh trong cuộc đời này:

 

Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi

 

Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già.

 

          Nếu cứ bám từng địa danh mà kể thì nội dung vô cùng phong phú. Mỗi tên đất, tên miền đều gắn liền cùng gia thoại.

 

         Cầu Trường Tiền cũng là một điểm nhấn trong cuộc hành trình du lịch Huế. Các loại hình văn học nghệ thuật đã đưa hình ảnh cầu Trường Tiền ra khắp nơi trên châu lục. Mượn cầu Trường Tiền người Huế không muốn đổ lỗi cho nhau khi có cuộc tình xa. Chỉ có trời mới làm cho hai ta cách ngăn!

 

Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Em đi không kịp tội lắm ai ơi
Bởi vì ai mà em phải mang tiếng chịu lời
Có xa nhau đi nữa cũng tại trời mà xa.

 

          Còn câu ca dao dưới đây đã làm nhiều người liên tưởng đến giọng thơ Bút Tre: “Liên Xô rất đỗi tự hào, ông Ga-ga-rỉn bay vào vũ tru (trụ)”. À thì ra trước Bút Tre, ngày xưa ấy Huế đã có loại thơ ni rồi!

 

Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại

 

Cầu Trường Tiền đúc lại xi-moon (xi-măng)

 

Ai người lỡ chuyện chồng con

 

Đến đây tính cuộc vuông tròn trăm năm.

 

         Chợ Đông Ba một thời nối Đập Đá bằng những con đò ngang hiền lành phúc hậu. Rồi những con đò dọc về Vỹ Dạ, làng Sình, về với phá Tam Giang đầy ắp chuyện ân tình, nhơn ngãi:

 

Đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá

 

Đò về Vỹ Dạ thẳng ngã ba Sình

 

Lờ đờ bóng xế trăng chênh

 

         Theo nhau cho trọn mối tình nước non

 

Bến chợ Đông Ba tiếng gà eo óc

 

Bến chùa Thọ Lộc tiếng trống sang canh

 

Giữa sông Hương rợn sóng khuynh thành

 

Đêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng.

 

         Nhắc tên Vỹ Dạ, du khách không thể quên chuyện tình giữa nhà thơ Hàn Mặc Tử và một cô gái nơi đây. Văn học đã đưa Vỹ Dạ đến tận cùng của vẻ đẹp:

 

 Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

 

Có chở trăng về kịp tối nay.

 

         Mỗi công trình ở bờ bắc cầu Trường Tiền như cuốn hút chân người:

 

Đông Ba Gia Hội hai cầu

 

Ngó qua Diệu Đế trống lầu giá chuông.

 

         Cách cầu Gia Hội, chùa Diệu Đế không xa về hướng đông, chợ Dinh “bán áo con trai” với giai thoại một vị quan trong triều Nguyễn muốn chợ Dinh chỉ bán áo con trai để cầu tự đã đi vào câu hò ru em quen thuộc:

 

Ru em cho théc cho muồi

 

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

 

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu

 

Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh

 

Chợ Dinh bán áo con trai

 

Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.

 

          Các tên gọi chợ Dinh, Nam Phổ, Triều Sơn, Mậu Tài… cũng mở ra những cảnh quan sinh động. Chữ trầu cau làm ta hình dung chuyện dựng vợ gã chồng, chữ nón, kim gợi dáng người nữ Huế công dung ngôn hạnh. Huế từ câu hò ru em mà đằm thắm, lạ chưa!

 

          Điểm cuối của chuyến đi này là tìm về đặc sản Thuận An. Bên cạnh cá, tôm, mực tinh tươi ngon lành, bổ dưỡng, vò vọ (ghẹ) ở Thuận An lại được đưa vào văn học dân gian, vò vọ ở Thuận An có hai nguồn cung cấp là vò vọ nước lợ phá Tam Giang và vò vọ sinh sống ngoài biển.

 

         Thi ca xứ Huế qua các địa danh được người dân chương trình qua các làn điệu hò mái nhì, hò ru em, hò giả gạo, hát chầu văn, ngâm thơ, làn điệu vè… có lẽ cũng đã tròn đầy. Hải sản Thuận An đã có hào soạn đón mời du khách. Cũng nhờ có chuẩn bị cho cuộc đi này nên tôi xin được mời du khách nâng ly rượu Chuồn, gõ chén hát chơi:

 

Vò vọ mà chấm muối rang

 

Ai thích ăn vò vọ tìm Thuận An mà về!

 

ĐÔI LỜI VỀ “XÔI CHUÔNG”

 

Trần Thị Ngọc Lan

 
 Đã lâu rồi tôi mới có dịp cầm một tập tản văn lên để đọc, lòng không tránh khỏi cảm giác bình thường bởi những điều thường xuyên diễn ra trong cuộc sống. Ấy vậy mà tản văn của Võ Quê lại hấp dẫn tôi bởi cái hồn hậu, nồng nàn. Tôi đi dần vào trong. Những con đường, những dòng sông, những kỷ niệm - cứ dần dần hiện lên với bao dấu yêu, trìu mến… Những khoảnh khắc yêu thương mà ta phải nhớ đến trong cuộc đời, để từ đó soi rọi chính mình, xem ta đã rộng ra, cao lên bao nhiêu, trong cuộc đời cá nhân biền biệt ấy...

 Võ Quê đích thực là một nhà thơ của phong trào đô thị miền Nam trong đấu tranh chống Mỹ những năm 60 của thế kỷ trước, và nhà thơ của dân lao động nghèo mà nhân hậu, yêu cái đẹp… Điều đáng ngạc nhiên là ông vẫn giữ được tình yêu cuộc sống và sự thiết tha sôi nổi của tuổi trẻ cho đến tận bây giờ. Ông vẫn thổi được lửa và khát vọng sống vào trong những trang văn của mình, với ước vọng một đời “Sống để yêu thương”.

 

Thì đây, “Xôi chuông” với một loạt tản văn giàu chất thơ, giàu lòng từ ái, ông đã thành tâm lắng nghe cuộc sống, nâng niu những giá trị nhân văn đích thực ở quanh mình. Tập tản văn vừa diễn tả được cái bên ngoài văn bản, cái cựa quậy, sức bật của cuộc đời ấm nóng, vừa thể hiện được cái chân chất bên trong, là tình người, tình đời vẫn luôn được ấp ủ, trở thành những cột mốc nhỏ nhoi quý giá, để nếu mệt quá ta ngồi xuống nghỉ, trước lúc lại lên đường. Những tên tuổi, con người đã đi qua đời ta, như những nét chấm phá khó tàn phai nơi trí nhớ. Trí nhớ ấy làm chứng nhân, có trách nhiệm, dám đối thoại với cuộc đời và với bản thân mình. Những con chữ phập phồng nhịp sống, hơi thở của hồi ức, kỷ niệm, tình yêu, giấc mơ, luyến tiếc; luôn nuôi dưỡng những gì tốt đẹp nhất và luôn tin tưởng, lấp lánh ánh sáng về tình bạn, tình yêu, nụ cười, kỷ niệm, niềm vui, vẻ đẹp, khổ đau, nghèo đói… Tất cả điểm xuyết rất vô tình, làm nên cái mềm mại, hiền hòa và dễ thương của tản văn Võ Quê.

 

Tản văn Võ Quê thực ra là những câu chuyện đời ứa nước mắt về cuộc sống mặn nồng và gian khổ này. Ngôn từ trong trẻo, có hồn, và câu từ thì hấp dẫn, tươi mới, đọc không chán. Tác giả trực diện nhìn cuộc đời, với đôi mắt đầy yêu thương, nhạy cảm, muốn thổi hồn, thổi tình vào con người, đất nước, thiên nhiên. Cái văn hóa, văn chương, tình người ấy đã in đậm dấu ấn vào tâm hồn nhà thơ. Văn hóa thấm đẫm trong từng cái ăn, cái mặc, lời nói, cử chỉ, niềm tin và ước mơ, là cội nguồn của sự sống thân thương. Vật chất đã quý, nhưng cái tinh thần lồng trong vật chất ấy, trong từng hành động của con người, còn đáng quý hơn, chính là chất keo vô giá để người ta nâng niu, trân trọng, gắn bó với đời nhau, nhớ về nhau mà sống! Những nét chấm phá, những góc nhìn, những tiếng vọng nhỏ nhoi trong tập sách tuy rất đơn sơ mà nghĩa tình chan chứa. Ăn một miếng bánh, uống một chén nước mà xót xa thương người dân quê cơ cực, suốt một đời dầm sương dãi nắng. Rải rác đây đó tình yêu thiên nhiên, nhân từ, hiếu khách. Dư vị mặn nồng, đắng cay, xa xót. Những băn khoăn, trăn trở, ngậm ngùi, mến thương vì cuộc sống ở quanh ta… Thiên nhiên dường như cũng mang cái hồn và sức sống của con người, cũng có tình yêu và khát vọng.

 

Những tản văn như những bài thơ thơm hương thoang thoảng giữa ban khuya. Cuộc sống hiện lên với tất cả sắc màu, mùi vị, hình thể, dường như có một linh hồn. Là những đêm đờn ca trên mênh mang sông Hương. Là con đường mang tên Trịnh Công Sơn trải dài bóng mát. “Là từng chuyến đi dài dọc đường thiên lý nắng, mưa, gió bụi. Là biết bao vòng ôm bạn bè tứ xứ. Biết bao lần siết tay người thân tình muối mặn gừng cay. Hoa hồng. Nụ cười. Nước mắt. Hội ngộ. Chia ly. Tôi phiêu du. Tôi khát vọng kiếm tìm buồn vui trên trái đất”. Là “Ký ức tuổi thơ ngủ lăn lóc trước sân đình trong thiêng liêng trầm hương chiêng trống.”… Đôi khi “Cho tôi cùng đang lang thang trên từng con  phố Sài Gòn. Cho tôi cùng đang qua cầu Cần Thơ với bước chân trần, tóc bay trong nắng chiều gió lộng phóng khoáng, hào khí phương Nam...” (Rạo rực với phương Nam).

 

Đó là những khoảnh khắc đáng nhớ của đời người, tạo thành kỷ niệm vĩnh cửu sống trong tâm khảm chúng ta. Và cái đó mới tạo cho cuộc đời nhiều ý nghĩa. Tập tản văn thể hiện được cái khí chất tự do, khoáng đãng, vận động và triển nở của cuộc đời. Thời gian lặng lẽ trôi qua. Cuộc sống vẫn nối tiếp, tự ngày xưa cho tới bây giờ. Và tình yêu cứ trải dài theo con nước sông Hương, một đời không ngơi nghỉ, dẫu vận động, đổi thay, nứt vỡ. Chớp mắt đã đi qua những khoảnh khắc, những kỷ niệm, những đời người rồi đấy!...

 

Ở đâu đó vẫn còn sự lãng quên. Võ Quê không nói về sự lãng quên, nhưng đọc những tản văn này, tôi nhớ đến! Trong sự tồn tại và hiện hữu ấy, đã hiện lên từng khoảnh khắc, từng sát na vui, sát na buồn, sát na đau khổ, từng sát na hạnh phúc! Qua sự sinh tồn, nhà thơ còn muốn nói sâu xa về lẽ đời sống chết, dự cảm đời người sinh ly tử biệt, những chuyện muôn thuở muôn đời. Mọi vật vẫn tồn tại, vẫn sống và phát triển, đó là điều quan trọng nhất! Mọi vật vẫn luôn hiện diện ở đó, một khi lương tâm ta đã nhớ về. Từng chi tiết nhỏ đời thường cũng không làm ta nỡ bước chân đi…

 

Ở giữa cuộc đời ấy, thì ta có riêng ta. Ở giữa thế gian bạt ngàn ấy, thì ta có người con gái đã yêu mình! Bởi vậy, tình yêu trong văn chương Võ Quê quá đẹp, thiêng liêng, trở thành khuôn vàng thước ngọc, hằn sâu trong trí nhớ. Hạnh phúc lứa đôi nghiễm nhiên trở thành đức tin, thành điểm tựa, thành giá trị của đời người. Tình yêu son sắt của ông với cô gái Huế đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, đã vượt qua cái gian khổ hữu hạn của kiếp người, để vươn tới cái vô cùng. Cái khoảnh khắc “Xôi chuông”, khoảnh khắc mà tiếng chuông nhà thờ vang lên trong mùi thơm xôi đỗ, đánh thức khát vọng sống, khát vọng yêu, khát vọng hạnh phúc và tranh đấu vì cuộc sống của con người. Phải chăng sống trên đời cần một tấm lòng, để khơi bùng ngọn lửa? Để khơi bùng lý tưởng? Từ một niềm may mắn, ước mơ nhỏ bé, đến khát vọng lớn lao, truyền lửa cho mọi người?...

 

Bao trùm tất cả trong tập sách là một đạo lý uống nước nhớ nguồn. Ngoài ra còn có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Tấm lòng biết ơn cuộc sống. Tự hào về quê hương đất nước. Tự tin hội nhập cùng bạn bầu thế giới. Khơi dòng chảy văn hóa, khắc phục mọi nghịch cảnh để giao lưu… 

 

Và Huế, với màu tím thủy chung, cái rực rỡ sắc màu của bông trang bông phượng, làn hương thiết mộc lan, câu hò, điệu lý trên sông Hương… vẫn thao thiết hiện lên, bên cạnh những tháng ngày phiêu dạt Sài Gòn, miền Tây, Kinh Bắc, thành phố  Gyeongju, hay Washington… vẫn khôn nguôi nhớ.  “Huế ươm mầm thơ trữ tình da diết cho từng thế hệ bằng cảnh quan, đất trời, bằng buồn vui nhân thế, bằng chìm nổi sông Hương, bằng nắng mưa đỉnh Ngự theo năm tháng, đến rồi đi?”. Tất cả cuộc đời nhiều dư vị, sắc màu, góc cạnh ấy, làm cho ta yêu cuộc sống hơn. Và đôi khi, chẳng hiểu sao, lòng ta lại khôn nguôi nhớ tiếc cái cuộc đời tươi đẹp ấy?...

 
                                                        Trần Thị Ngọc Lan

 

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

 

18 NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - BA ĐÌNH - HÀ NỘI

 

Điện thoại: 04.37161518 - 04.37163409, Fax: 04.38294781

 

Wepsite: www.nxbvanhoc.com, www.nxbvanhoc.vn

 

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

* Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh

 

290/20 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Quận 3

 

Điện thoại: 08.38469858, Fax: 08.38483481

 

* Văn phòng đại diện tại thành phố Đà Nẵng

 

580 đường Núi Thành - thành  phố Đà Nẵng

 

Điện thoại: 0511.3797709

 

Chịu trách nhiệm xuất bản

 

NGUYỄN ANH VŨ         

 

Biên tập: Trần Thị  Ngọc Lan
Bìa: Tranh của họa sĩ Bửu Chỉ
Trình bày mỹ thuật: Họa sĩ Nguyễn Tuấn.
Trình bày: Văn Việt
Sửa bản in: Trương Thọ